Có những buổi tối mình về nhà với một cảm giác rất lạ: chẳng ai nói gì xúc phạm mình, đồ ăn ngon, bạn cũ tay bắt mặt mừng, vậy mà lên xe rồi, ngực cứ nặng. Đó thường là tối họp lớp. Hai mươi năm không gặp, mỗi người mang theo một tấm danh thiếp vô hình: chức vụ, công ty, căn nhà, chiếc xe, đứa con du học. Và dù không ai bày ra một bảng xếp hạng, ai cũng tự xếp mình vào đâu đó trên bảng ấy. Bài này không bảo bạn bớt mừng cho bạn bè, cũng không bảo thành đạt là xấu. Nó chỉ tháo ra một phép đo mình mang theo lâu đến mức tưởng là sự thật: mình hơn người thì mình mới có giá trị.
Tầng ba nhà hàng, tối thứ Bảy
Quân bốn mươi mốt tuổi, kỹ sư bảo trì ở một nhà máy bao bì ngoài khu công nghiệp. Lương đủ sống, nhà mua trả góp còn chín năm, xe máy đi đã mười hai năm.
Lớp 12A1 họp mặt hai mươi ba năm ra trường, đặt tầng ba một nhà hàng hải sản. Quân đến hơi sớm, ngồi gần cửa. Rồi từng người bước vào.
Tuấn, hồi xưa ngồi bàn cuối, giờ là giám đốc một công ty logistics, đến bằng xe riêng có tài xế. Chị Ngọc lớp phó học tập, giờ là bác sĩ trưởng khoa. Hùng mở chuỗi ba quán cà phê, vừa được báo địa phương phỏng vấn. Lan định cư ở Úc, về đúng dịp, mang quà cho cả lớp.
Câu hỏi đầu tiên ai cũng hỏi nhau là "Giờ làm gì rồi?". Câu hỏi thứ hai là "Ở đâu?". Không ai hỏi "Dạo này có ngủ ngon không?".
Đến lượt Quân, anh nói "vẫn làm kỹ thuật ở nhà máy cũ", rồi nhanh chóng hỏi lại người kia. Cả buổi anh cười đúng chỗ, nâng ly đúng lúc. Lúc chụp ảnh chung, anh đứng hàng sau.
Mười một giờ đêm, trên đường về, Quân dừng đèn đỏ ở ngã tư. Anh chợt thấy mình đang nhẩm lại từng người: ai hơn, ai bằng, ai kém mình. Danh sách "kém mình" ngắn hơn anh muốn. Cổ họng hơi đắng. Về đến nhà, vợ hỏi "vui không anh", anh nói "vui", rồi nằm mãi không ngủ.
(Quân và các bạn cùng lớp là nhân vật hư cấu, ghép từ nhiều hoàn cảnh.)
Câu hỏi không ai hỏi, nhưng ai cũng trả lời
Không ai trong bàn tiệc hỏi Quân: "Anh có giá trị không?". Nhưng suốt buổi, anh vẫn trả lời câu ấy, bằng cách so.
Tà kiến nền ở đây, nói gọn: "Tôi có giá trị vì tôi hơn người khác, hoặc vì tôi được người khác công nhận."
Câu này hiếm khi được nói thành lời. Nó được dạy bằng mười hai năm bảng điểm, bằng lời khen "con nhà người ta", bằng những lần cả họ hàng hỏi "lương bao nhiêu". Đến tuổi bốn mươi, nó đã thành một cái thước gắn sẵn trong mắt. Gặp ai, cái thước tự đưa ra đo.
Cần phân biệt ngay từ đầu. Thành tích là thật. Tuấn đã làm việc rất nhiều mới có công ty. Chị Ngọc đã trực bao nhiêu đêm mới thành trưởng khoa. Quân cũng đã giữ cho một dây chuyền chạy suốt mười tám năm. Những việc ấy đáng ghi nhận. Điều bài này soi là bước nhảy phía sau: vì tôi có những thứ ấy (hoặc không có) nên tôi đáng giá (hoặc không đáng giá) như một con người.
Cái thước có ba vạch: hơn, bằng, kém
Kinh điển có một chữ rất ngắn cho cái thước này: māna, thường dịch là mạn.
Trong Kinh Soṇa (SN 22.49), Thế Tôn nói với Soṇa, con một gia chủ, rằng những người dựa vào năm uẩn vô thường mà dựng lên phép so sánh thì không thấy như thật. Kinh lần lượt nói về sắc, thọ, tưởng, hành, và đến thức:
quán thức vô thường, khổ, biến hoại là : "Ta tốt đẹp hơn", hay quán: "Ta bằng nhau", hay quán: "Ta hạ liệt hơn"; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những người không thấy như thật!
Đáng dừng lại ở chỗ này: kinh không chỉ nói "ta hơn" là không thấy như thật. Cả "ta bằng" và "ta kém" cũng vậy. Nghĩa là cảm giác của Quân trên đường về, mình thua, không phải ngược lại với kiêu căng. Nó là cùng một cái thước, chỉ đọc ra một con số khác.
Tạng Vi Diệu Pháp, trong Bộ Phân Tích (bản dịch cảo bản của HT. Tịnh Sự), phân tích tỉ mỉ cái thước ấy và liệt kê luôn những thứ người ta đem ra đo. Ở vạch "ta thua họ", văn bản viết:
Trong đời nầy cũng có người tự coi rẻ mình do một nhân nào như là coi rẻ do sự sanh ra do dòng giống, do sự làm con của người có rân rát do có sắc đẹp, do tài sản, do chức lớn, do chủ sự, do nghề giỏi, do tài hay, do sự học vấn hoặc do cấp trí.
Đọc lại danh sách ấy rồi nhớ lại bàn tiệc: tài sản, chức lớn, nghề giỏi, học vấn. Gần như không sót thứ gì người ta hỏi nhau tối hôm ấy. Văn dịch cổ, nhưng điều nó chỉ ra rất hiện đại: những thứ đem ra so ở buổi họp lớp năm nay cũng chính là những thứ được đem ra so từ hơn hai nghìn năm trước.
Bộ Phân Tích còn đi thêm một bước. Ở trang kế tiếp, khi mô tả người tự thấy mình thua, văn bản dùng một chuỗi chữ rất nặng:
họ đã nương cách ỷ thua người khác như thế đó, tự coi rẻ, cách tự coi rẻ, thái độ tự coi rẻ, tư cách tự coi rẻ, sự tự chê ghét, thái độ tự chê ghét, tư cách rất tự chê ghét, sự tự khinh, coi mình thấp thỏi, sự coi mình hèn.
Và theo cách phân chín loại mạn ở cùng chỗ ấy, người thật sự hơn mà nghĩ "ta hơn" thì vẫn là mạn. Đúng sự thật không làm cho phép đo ấy hết là mạn. Còn tự coi rẻ mình thì không phải khiêm tốn; nó vẫn là cái thước, chỉ là đặt mình ở vạch dưới.
Lưu ý về tầng nguồn: đây là phần phân tích của Tạng Vi Diệu Pháp, không phải một bài giảng trong Kinh. Bài dùng nó để gọi tên cho rõ, không để thay cho lời kinh ở trên.
Vua cũng so, người tu cũng so
Có người sẽ nghĩ: chắc chỉ người "thua" mới khổ vì so sánh, người thành đạt thì yên rồi. Truyền thống chú giải không nghĩ vậy.
Chú giải bộ Phân Tích Đạo (Paṭisambhidāmagga-aṭṭhakathā, văn bản Pāḷi), khi giải thích chín loại mạn, đưa ra những ví dụ rất đời. Tạm dịch ý [T]: một vị vua khởi mạn "về lãnh thổ, về tài sản, về xe cộ, ai bằng ta"; còn một vị vua mà lãnh thổ, tài sản không được đầy đủ thì lại khởi mạn kiểu khác: "gọi là vua chỉ là cái tên cho có, ta nào phải vua". Một vị xuất gia ít lợi dưỡng, cung kính cũng vậy: "gọi ta là người thuyết pháp, là bậc đa văn, chỉ là lời nói suông, khi ta không có lợi dưỡng cung kính".
Đây là lời Chú giải, không phải lời Đức Phật, và câu tiếng Việt ở trên là bản tạm dịch. Nhưng hình ảnh thì rõ: cùng một ông vua, có của thì mạn theo kiểu "ai bằng ta", thiếu của thì mạn theo kiểu "ta chẳng ra gì". Tuấn, người đến bằng xe có tài xế, cũng có thể đang ngồi đo mình với một người bạn khác giàu hơn. Cái thước không tha ai. Nó chỉ đổi vạch.
Vì sao một buổi tối lại bám lâu như vậy
Họp lớp chỉ ba tiếng. Vậy mà cảm giác thì kéo cả tuần. Vì sao?
Trong Kinh Tăng Chi, phần nói về các pháp thế gian (AN 8.6), Thế Tôn nói về người chưa nghe pháp khi lợi dưỡng, danh vọng, tán thán và những điều ngược lại khởi lên. Người ấy không suy tư rằng chúng vô thường, nên:
Người ấy thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên và nghịch ứng với không lợi dưỡng; thuận ứng với danh vọng được khởi lên và nghịch ứng với không danh vọng; thuận ứng với tán thán được khởi lên và nghịch ứng với chỉ trích
Ngay trước đó, kinh dùng một chữ rất chính xác: những điều ấy "xâm nhập tâm của người ấy và an trú". Không phải chỉ đi ngang qua, mà vào ở lại.
Đó chính là chuyện của Quân. Danh thiếp của Tuấn, bài báo về quán cà phê của Hùng: những thứ ấy không thuộc về Quân, nhưng chúng vào ở lại trong tâm anh. Anh nghịch ứng với chỗ "không danh vọng" của mình, và cứ mỗi lần nhớ lại, sự nghịch ứng được làm mới.
Cùng bài kinh, Thế Tôn nói về vị Thánh đệ tử có nghe pháp, khi những điều ấy khởi lên, thì suy tư "lợi dưỡng này khởi lên nơi ta, lợi dưỡng ấy vô thường, đau khổ, biến hoại". Kết quả là:
không thuận ứng với danh vọng được khởi lên , không nghịch ứng với không danh vọng; không thuận ứng với tán thán được khởi lên , không nghịch ứng với chỉ trích
Kinh không nói người ấy không bao giờ gặp danh vọng hay chỉ trích. Kinh nói người ấy gặp, nhưng không bị chúng dọn vào ở trong tâm.
Cành lá và lõi cây
Có một hình ảnh trong Trung Bộ đáng để người vừa đi họp lớp về đọc chậm.
Trong Đại kinh Thí dụ Lõi cây (MN 29), Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo về một người xuất gia được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng:
Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy. Còn các Tỷ-kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền". Vị ấy, vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Rồi Thế Tôn so người ấy với một người đi tìm lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi, nhưng lại "chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây."
Bối cảnh của kinh là đời sống xuất gia; bài này chỉ mượn nguyên lý. Lợi dưỡng, danh vọng là cành lá. Chúng có thật, có ích, có màu xanh đẹp. Chỉ là chúng không phải lõi. Một buổi họp lớp là một cuộc trưng bày cành lá rất công phu. Ai cũng mang đến phần xanh nhất của mình. Không ai mang theo cái lõi, vì cái lõi không chụp ảnh được.
Và chú ý câu cuối của đoạn kinh: do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Người được danh vọng mà đem nó ra khen mình chê người cũng khổ. Tức là trong bàn tiệc tối hôm ấy, người thấy mình thua không phải người duy nhất đang mang một gánh nặng.
Người chân nhân nghĩ khác thế nào
Vậy người không bị cái thước kéo đi thì nghĩ gì? Kinh Chân Nhân (MN 113) trả lời bằng những cặp đối chiếu rất đều tay.
Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo về người "phi Chân nhân", người lấy những thứ như xuất thân gia đình cao sang, quý phái, đại phú, hay sự nổi tiếng làm cớ để khen mình chê người. Một ví dụ:
có người phi Chân nhân được nhiều người biết, có danh xưng. Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta được nhiều người biết, có danh xưng, còn các Tỷ-kheo này được ít người biết đến, không được trọng vọng". Vì người ấy tự mình được nhiều người biết đến nên khen mình chê người.
Còn người Chân nhân, với cùng một điều kiện, suy nghĩ khác. Ví dụ với việc "nghe nhiều", tức học rộng:
"Không phải vì nghe nhiều mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu có người không nghe nhiều và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán".
Người Chân nhân không phủ nhận mình nghe nhiều. Người ấy chỉ đổi câu hỏi. Không hỏi "cái này làm mình hơn ai?", mà hỏi "cái này có làm tham, sân, si của mình giảm đi không?". Và với câu hỏi ấy, thước đo sự đáng kính trọng không còn là chức vụ hay danh xưng, mà là cách một người sống.
Kinh còn đi xa hơn nhiều. Ngay cả với thành tựu thiền định, thứ mà ở bối cảnh kinh còn cao quý hơn mọi chức vụ thế gian, người phi Chân nhân vẫn có thể dùng nó để so:
Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta là người chứng được sơ Thiền, các người Tỷ-kheo này không chứng được sơ Thiền". Người ấy do tự mình chứng được sơ Thiền nên khen mình chê người.
Còn người Chân nhân thì lấy "vô tham ái" làm chánh yếu và không khen mình chê người vì điều ấy. Từ đây có thể suy ra (đây là suy luận của bài, không phải câu trong kinh): nếu đến cả thiền định cũng không phải chỗ để đặt cái "ta hơn", thì một chiếc xe có tài xế hay một chức trưởng khoa càng không phải.
Chuyện gì thật sự xảy ra ở ngã tư đèn đỏ
Quay lại khoảnh khắc Quân dừng đèn đỏ.
Có một hình ảnh hiện lên: Tuấn bước xuống xe. Đó là một sự tiếp xúc, chỉ là ký ức. Ngay sau đó là một cảm giác trong thân: ngực hơi thắt, cổ hơi đắng. Cảm giác ấy, tự nó, chưa nói gì về giá trị của ai. Nhưng tâm kể thêm, nhanh hơn ý thức: mình thua. Rồi kể tiếp: hai mươi năm mình làm được gì? Từ câu chuyện ấy sinh ra một thúc bách: phải làm gì đó để cảm giác này đi ngay.
Mỗi người nắm một kiểu:
- Gồng lên đuổi theo. Tối đó lên mạng xem khoá MBA, tính chuyện vay thêm đổi xe. Không phải vì mình cần, mà vì lần họp lớp sau không muốn đứng hàng sau nữa.
- Hạ người khác xuống. "Thằng Tuấn chắc làm ăn không sạch." "Bác sĩ thì giàu là phải." Hạ được người ta một chút thì mình nhẹ được một chút.
- Rút lui và tự chê. "Mình vô dụng thật." Lần sau có lời mời họp lớp thì lấy cớ bận.
Ba phản ứng trông rất khác. Nhưng cả ba cùng phục vụ một câu: tôi phải đứng được ở vạch "hơn", hoặc ít nhất "bằng", thì mới yên. Cái thước không bị đặt xuống; nó chỉ được dùng tiếp. Và mỗi lần một phản ứng "có tác dụng", mua được cái gì đó, nói xấu được ai đó, tránh được buổi gặp nào đó, thì câu kia lại được nuôi thêm một chút.
Điểm gãy nằm đúng một chỗ: cảm giác thắt ngực không đòi mình phải đổi xe hay nói xấu ai. Cái thèm thoát khỏi cảm giác ấy mới đòi. Khoảng trống giữa lúc ngực vừa thắt và lúc tâm vừa bắt đầu kể chuyện "mình thua" là chỗ người ta có thể dừng lại và nhìn.
Thấy cái gì đổi thay thì cái thước tự lỏng
Vậy làm sao đặt cái thước xuống mà không phải ép mình "đừng so nữa"?
Trong Kinh Tăng Chi (AN 4.185), Thế Tôn nói với các du sĩ về những sự thật mà người hiểu đúng có thể nói ra. Một trong số đó là: "Mọi dục là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại". Người thấy được điều ấy thì:
không nghĩ đến: "Ta hơn (các người khác)", không nghĩ đến: "Ta bằng (các người khác)", không nghĩ đến: "Ta là hạ liệt".
Ở đây kinh không dạy cách so khéo hơn, cũng không bảo tự nhủ "ai cũng như ai". Kinh chỉ ra rằng khi thấy rõ những thứ được đem ra so là đổi thay, cái thước tự mất chỗ bám. Chức giám đốc của Tuấn có thể mất sau một đợt tái cấu trúc. Quán cà phê của Hùng có thể đóng cửa. Chiếc xe mười hai năm của Quân rồi cũng sẽ bán. Không ai đứng yên trên vạch nào cả. Dựng giá trị của một con người lên những thứ ấy là đặt cái thước lên mặt nước.
Nhưng có một cái bẫy ngay sau câu này, và nó trông rất giống sự giải thoát. Người ta dễ chuyển từ "tôi có giá trị vì tôi hơn" sang "tôi có một giá trị bất biến nằm sâu bên trong, không ai so được." Câu sau nghe êm hơn. Nhưng nó vẫn là cùng một động tác: đi tìm một cái "tôi" để nắm và để được xác nhận. Kinh Soṇa ở trên không bảo tìm một cái tôi tốt hơn để đem ra so. Nó chỉ ra rằng chính việc dựng "ta hơn, ta bằng, ta kém" trên những gì biến hoại là chỗ không thấy như thật.
Nên có hai tầng, cần giữ cả hai. Ở tầng đời sống: không ai đáng bị coi rẻ vì chiếc xe hay chức danh của mình, kể cả bởi chính mình. Ở tầng sâu hơn: câu hỏi không còn là "làm sao để mình thấy mình không thua", mà là "cái gì trong mình đang cần được đứng ở vạch trên?"
Kinh có chê thành đạt không? Không
Người đọc kỹ sẽ hỏi: vậy làm ăn giỏi, có tiếng tốt là sai sao? Chẳng lẽ người tu phải sống lụi?
Kinh trả lời rõ là không. Trong Kinh Tăng Chi (AN 4.61), Thế Tôn nói với gia chủ Anāthapiṇḍika về bốn điều "khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời". Hai điều đầu tiên là:
"Mong rằng tài sản khởi lên cho ta đúng pháp". Ðây là pháp thứ nhất, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời. "Tài sản đã được đúng pháp, mong rằng tiếng tốt được đồn về ta, cùng với bà con, và các bậc Thầy". Ðây là pháp thứ hai
Tài sản đúng pháp và tiếng tốt được kinh gọi là đáng ưa, khó được. Không có gì phải xấu hổ khi muốn chúng.
Nhưng cũng trong bài kinh ấy, khi nói về người có tài sản, kinh nói theo một hướng rất đáng để ý:
Ở đây, này Gia chủ, Thánh đệ tử, với tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, tự làm mình an lạc, hoan hỷ, chơn chánh đem lại an lạc, giúp cha mẹ được an lạc hoan hỷ, giúp vợ con, người phục vụ, người làm công được an lạc, hoan hỷ
Đọc kỹ: thành quả được nói tới theo cách có được (do mồ hôi, đúng pháp) và cách dùng (đem an lạc cho mình và những người xung quanh). Không có chỗ nào nói thành quả ấy để mình đứng cao hơn người khác. Đó là khác biệt then chốt. Tài sản của Tuấn, nếu kiếm đúng pháp và dùng để nuôi gia đình, trả lương công nhân, là đáng mừng. Mười tám năm Quân giữ dây chuyền chạy, nuôi vợ con bằng mồ hôi của mình, cũng nằm đúng trong đoạn kinh ấy. Hai việc ấy không cần xếp hạng với nhau mới có ý nghĩa.
Còn với niềm vui khi thành tựu, kinh cũng không bắt dập tắt. Trong Đại kinh Thí dụ Lõi cây (MN 29), ở vế người đi đúng hướng, có một cụm chữ rất đẹp:
Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này khen mình, chê người.
Hoan hỷ nhưng không tự mãn. Được vui. Không được đem niềm vui ấy ra làm bậc thang đứng lên đầu người khác. Trong Tiểu kinh Dụ lõi cây (MN 30), Thế Tôn nói với Bà-la-môn Piṅgalakoccha thêm một hệ quả: người tự mãn và khen mình chê người thì không còn cố gắng hướng lên, còn người hoan hỷ mà không tự mãn thì:
Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động.
Điều này đáp luôn một nỗi lo phổ biến: "bỏ so sánh thì mất động lực". Theo đoạn kinh, chính cái tự mãn khi thấy mình hơn mới làm người ta dừng lại. Người không cần đứng trên ai vẫn có hướng để đi tiếp.
"Ta là bậc tối thượng ở đời" thì sao?
Câu phản biện thứ hai, sắc hơn: chẳng phải truyền thống kể rằng chính Thế Tôn cũng có câu aggohamasmi lokassa, "Ta là bậc tối thượng ở đời" đó sao? Vậy so hơn kém là tự nhiên, đến bậc Giác Ngộ cũng vậy?
Chú giải Luật (Samantapāsādikā, phần giải thích phẩm Verañja, văn bản Pāḷi) có bàn trực tiếp chỗ này. Bối cảnh: Bà-la-môn Verañja trách Thế Tôn không đứng dậy chào, không mời ngồi những Bà-la-môn lớn tuổi. Chú giải giải thích, tạm dịch [T]: Thế Tôn trả lời mà không rơi vào lỗi khen mình chê người (attukkaṃsanaparavambhanadosaṃ anupagamma), với một tâm mát lạnh vì bi mẫn, nhằm phá sự không biết của vị Bà-la-môn ấy.
Đây là lời giải thích của Chú giải, không phải lời trong kinh, và câu tiếng Việt là bản tạm dịch. Nhưng phân biệt nó đưa ra thì đáng giữ: nói một điều đúng về phẩm chất, vì lợi ích của người nghe, khác với dựng một cái "ta hơn" để được yên tâm về giá trị của mình. Cái thứ nhất không cần ai thua. Cái thứ hai cần.
Và câu ấy không đổi được chuyện ở bàn tiệc. Khi Quân nhẩm "ai hơn, ai kém" trên đường về, anh không đang nói sự thật để giúp ai cả. Anh đang tìm chỗ đứng cho mình.
Phân biệt then chốt
| Thành tích | Giá trị của một con người | |
|---|---|---|
| Đến từ đâu | Nỗ lực cộng với rất nhiều duyên: gia đình, thời điểm, sức khoẻ, may mắn | Không phải một con số cộng dồn |
| Có đổi thay không | Có: mất chức, đóng cửa, già đi | Không có lý do gì để lên xuống theo |
| Khi đem ra so | Sinh ra "ta hơn / ta bằng / ta kém" | — |
| Cách kinh nói tới | Có được đúng pháp, dùng đem an lạc, hoan hỷ nhưng không tự mãn | Hành trì đúng pháp, tham sân si có giảm hay không |
Bảng này không bảo thành tích vô nghĩa. Nó chỉ tách hai cột ra để khỏi lẫn vào nhau.
Những điều không được bỏ qua
- Nếu sau buổi gặp, cảm giác "mình vô dụng" kéo dài nhiều tuần: mất ngủ, chán ăn, không còn muốn làm gì, thấy sống không có ý nghĩa, hay có ý nghĩ làm hại bản thân, đó không còn là chuyện để tự quán một mình. Hãy nói với người thân ngay hôm nay và tìm đến bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý.
- Nếu bạn đang thật sự khó khăn về tài chính, nợ nần, mất việc, những lo lắng ấy là thật, không phải "chỉ tại so sánh". Hãy tìm tư vấn tài chính, pháp lý, việc làm phù hợp. Bài này nói về cái thước đo giá trị con người, không nói rằng khó khăn vật chất là ảo.
- Không dùng bài này để coi thường người thành đạt. "Họ giàu nhưng chắc khổ" cũng là một cách dùng cái thước, chỉ là lật ngược.
- Không dùng bài này để bỏ cố gắng. Kinh khen tài sản đúng pháp và tiếng tốt chính đáng. Bỏ so sánh không có nghĩa là bỏ làm việc tử tế.
Điều có thể thử trong tuần này
- Bắt lấy cái thước đúng lúc nó đo. Lần tới thấy mình nhẩm "người này hơn mình, người kia kém mình", chỉ gọi tên: đây là đang so. Không cần sửa, không cần tự trách vì đã so. Chỉ thấy nó đang làm việc.
- Để ý vạch nào cũng là cái thước. Khi thấy mình nghĩ "mình thua", hỏi nhẹ: đây có phải cùng cái thước với lúc mình nghĩ "mình hơn" không? Nhận ra tự chê và tự cao là một, đôi khi làm cả hai cùng nhẹ đi.
- Đổi câu hỏi của người Chân nhân. Với một thứ mình hãnh diện hay xấu hổ (chức vụ, thu nhập, bằng cấp), hỏi: thứ này có làm tham, sân, si của mình bớt đi không? Không phải để coi thường nó, mà để đặt nó về đúng chỗ.
- Nhìn lại thành quả theo hai câu của kinh. Viết ra một thành quả của mình rồi trả lời: mình có được nó bằng cách nào? Mình đang dùng nó để đem lại an lạc cho ai? Không viết câu thứ ba "nó làm mình hơn ai".
- Nhắn một tin không có thước đo. Gửi cho một người bạn cũ, người thành đạt hơn hay kém hơn đều được, một câu không dính tới công việc: "Hôm đó gặp lại vui lắm. Dạo này ông ngủ ngon không?".
Dấu hiệu tự kiểm. Không phải "mình hết so chưa". Mà là: lần tới nghe ai kể về chức vụ mới, mình có nhận ra cái thước sớm hơn một nhịp không? Có vui được cho họ mà không cần đặt mình lên hay xuống không?
Một tháng sau, nhóm lớp nhắn tin rủ đi cà phê. Quân không lấy cớ bận. Anh ngồi cạnh Tuấn. Giữa chừng, Tuấn kể nhỏ rằng hai năm nay anh ngủ không quá bốn tiếng, công ty nợ ngân hàng, và anh ghen với Quân vì "ông về nhà đúng giờ, ăn cơm với vợ con". Quân nghe, và lần đầu tiên thấy cái thước trong mắt mình chẳng đo được gì cả. Hai người đàn ông bốn mươi mốt tuổi ngồi uống cà phê, không ai hơn ai.
Buổi họp lớp là nơi người ta trưng cành lá. Không sao cả. Chỉ đừng về nhà rồi tưởng đó là lõi cây.
Câu hỏi cộng đồng
Nếu ở buổi họp lớp tới không ai được hỏi "giờ làm gì rồi", bạn muốn được hỏi câu gì?
Từ ngữ trong bài
- Mạn (māna): phép đo "ta hơn, ta bằng, ta kém". Trong SN 22.49, dựng phép đo ấy trên năm uẩn vô thường được gọi là không thấy như thật. Tạng Vi Diệu Pháp xếp cả việc tự coi rẻ mình vào mạn.
- Khen mình chê người: đặt mình ở chỗ cao, đặt người ở chỗ thấp. Kinh Chân Nhân (MN 113) gọi đó là pháp của người phi Chân nhân.
- Chân nhân (bậc chân nhân): người lấy việc hành trì đúng pháp làm chánh yếu, không dựa vào xuất thân, danh xưng, học vấn để đặt mình trên người khác.
- Lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng (lābhasakkārasiloka): những gì người ta được nhận, được trọng, được biết đến. Trong MN 29 là "cành lá", không phải "lõi cây".
- Tám pháp thế gian: được và mất, danh và vô danh, khen và chê, lạc và khổ. AN 8.6 nói về người để chúng "xâm nhập tâm và an trú" và người không như vậy.
NGUỒN ĐÃ ĐỐI CHIẾU
Mọi câu trích tiếng Việt trong khối trích đã được đối chiếu nguyên văn với các bản dịch ghi dưới đây. Câu tiếng Việt cho văn bản Pāḷi Chú giải là tạm dịch của bài.
Tương Ưng Bộ — bản dịch HT. Thích Minh Châu
- SN 22.49 Soṇa: quán năm uẩn vô thường là "ta tốt đẹp hơn / bằng nhau / hạ liệt hơn" là không thấy như thật. Người nói: Thế Tôn, với Soṇa con một gia chủ. [KINH VĂN, lớp A]
Tăng Chi Bộ — bản dịch HT. Thích Minh Châu
- AN 8.6 Pháp thế gian: phàm phu thuận ứng, nghịch ứng với lợi dưỡng, danh vọng, tán thán; Thánh đệ tử suy tư chúng vô thường nên không thuận ứng, nghịch ứng. Người nói: Thế Tôn, với các Tỷ-kheo. [KINH VĂN, lớp A]
- AN 4.185: người thấy "mọi dục là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại" không nghĩ ta hơn, ta bằng, ta hạ liệt. Người nói: Thế Tôn, với các du sĩ. [KINH VĂN, lớp B]
- AN 4.61 Hành động xứng đáng: tài sản đúng pháp và tiếng tốt là khả lạc, khó được; tài sản do mồ hôi, đúng pháp, dùng đem an lạc cho mình và người xung quanh. Người nói: Thế Tôn, với gia chủ Anāthapiṇḍika. Phản chứng, đã trả lời. [KINH VĂN, lớp B]
Trung Bộ — bản dịch HT. Thích Minh Châu (trọn bộ 152 kinh)
- MN 29 Đại kinh Thí dụ Lõi cây: lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng mà khen mình chê người là cành lá tưởng lõi cây; "hoan hỷ nhưng không tự mãn". Người nói: Thế Tôn, với các Tỷ-kheo; bối cảnh xuất gia, bài chỉ áp dụng nguyên lý. [KINH VĂN, lớp A]
- MN 30 Tiểu kinh Dụ lõi cây: hoan hỷ không tự mãn thì tinh tấn hướng lên; tự mãn thì biếng nhác, thụ động. Người nói: Thế Tôn, với Bà-la-môn Piṅgalakoccha. [KINH VĂN, lớp B]
- MN 113 Kinh Chân Nhân: phi Chân nhân khen mình chê người vì xuất thân, danh xưng, nghe nhiều, kể cả thiền định; Chân nhân lấy hành trì đúng pháp và vô tham ái làm chánh yếu. Người nói: Thế Tôn, với các Tỷ-kheo. Áp dụng vào chức vụ, tài sản đời thường là [ỨNG DỤNG]. [KINH VĂN, lớp A]
Tạng Vi Diệu Pháp — Bộ Phân Tích (Vibhaṅga), cảo bản HT. Tịnh Sự
- Phân tích mạn "ta hơn / bằng / thua" dựa vào sanh, dòng giống, sắc đẹp, tài sản, chức, nghề, tài, học vấn; tự coi rẻ mình cũng là mạn. [ABHIDHAMMA, lớp C], không chiếu ngược vào Kinh.
Chú giải (văn bản Pāḷi CSCD, không phải bản dịch Việt; câu Việt là tạm dịch [T])
- Paṭisambhidāmagga-aṭṭhakathā, Ñāṇakathā: ví dụ chín loại mạn nơi vua và người xuất gia, có của và thiếu của. Người nói: Nhà Chú giải. Phản chứng, đã trả lời. [CHÚ GIẢI, lớp D]
- Samantapāsādikā, phần giải thích phẩm Verañja: giải thích câu aggohamasmi lokassa được nói ra không rơi vào lỗi khen mình chê người, với tâm bi mẫn. Người nói: Nhà Chú giải. Phản chứng, đã trả lời. [CHÚ GIẢI, lớp D]
Tham chiếu, không trích trong thân bài: chú giải MN 4 (định nghĩa khen mình chê người); chú giải AN 8.11 (song song với chú giải Luật về Verañja); MN 39 (chữ "thành tích" ở đó nghĩa là sự xuất gia có kết quả, không phải thành tích xã hội); MN 60; MN 15 (lời Tôn giả Mahāmoggallāna); SN 22.91, SN 18.22, SN 22.102; DN 25; AN 4.28; Luật Đại Phẩm, Vô ngã tướng; Bộ Vị Trí; Thanh Tịnh Đạo (Buddhaghosa).
[DIỄN GIẢI TRUE DHAMMA]: tà kiến nền "tôi có giá trị vì hơn người / vì được công nhận"; hình ảnh "cái thước có ba vạch"; ba kiểu phản ứng; điểm gãy giữa cảm giác và câu chuyện "mình thua"; bảng thành tích / giá trị; hai tầng quy ước và vô ngã; năm việc thử trong tuần. Nhân vật Quân, Tuấn, chị Ngọc, Hùng, Lan là hư cấu tổng hợp.
Dữ kiện ngoài kinh điển: bài không dẫn số liệu hay nghiên cứu tâm lý nào. Các lời khuyên an toàn là lời khuyên phổ thông, không phải tư vấn chuyên môn.
No comments:
Post a Comment