Có những buổi họp lớp mình về nhà mà không mang theo được gì, trừ một cảm giác rất khó gọi tên. Không ai nói gì sai. Không ai xúc phạm ai. Chỉ là suốt ba tiếng đồng hồ, những cái tên được nhắc đi nhắc lại là tên người khác: người làm giám đốc, người làm bác sĩ, người vừa tài trợ cho buổi tiệc. Còn tên mình, cái tên mà hai mươi lăm năm trước cô chủ nhiệm đọc đầu tiên mỗi lần trả bài, thì không ai gọi. Bài này không bảo bạn đừng buồn, cũng không bảo bạn bỏ họp lớp. Bài chỉ tháo ra một phương trình nằm lẫn trong nỗi buồn ấy: ngày xưa tôi được nhắc tên vì tôi giỏi; nay không ai nhắc nữa, vậy tôi không còn là gì.
Buổi họp lớp hai mươi lăm năm
Chị Ngân bốn mươi ba tuổi, làm kế toán cho một công ty vật liệu xây dựng ở thị xã. Hồi cấp ba, chị là lớp trưởng, ba năm liền học sinh giỏi tỉnh, là đứa được cô Hạnh chủ nhiệm gọi lên bảng mỗi khi cả lớp bí bài. Năm ấy chị đỗ đại học với số điểm cao nhất trường.
Tối thứ Bảy, lớp họp mặt kỷ niệm hai mươi lăm năm ra trường, ở một nhà hàng ven sông. Bình, lớp phó văn nghệ ngày xưa, cầm micro mở màn: "Trước hết cho mình cảm ơn anh Tuấn, giám đốc công ty Tuấn Phát, đã tài trợ toàn bộ tiệc tối nay. Cảm ơn chị Phương, phó khoa Tim mạch bệnh viện tỉnh, đã lo phần quà cho thầy cô." Cả phòng vỗ tay. Máy chiếu chạy những tấm ảnh cũ, rồi ảnh mới: Tuấn cắt băng khánh thành, Phương mặc áo blouse trắng, Hòa đứng trước căn nhà ở Úc.
Chị Ngân ngồi bàn thứ ba, cạnh cửa sổ. Đến lượt đi chúc rượu, chị cầm ly đến bàn thầy cô. Cô Hạnh giờ đã gần tám mươi, tóc bạc hết, nắm tay chị rất chặt, nhìn một lúc rồi cười hiền: "Em là… ai nhỉ? Cô già rồi, quên hết." Chị nói tên mình. Cô "à" lên một tiếng, rồi quay sang hỏi Phương về bệnh huyết áp của cô.
Chị về chỗ. Mặt nóng ran, cổ họng như có gì chặn lại. Trong nhóm chat của lớp tối đó, người ta đăng hai trăm tấm ảnh. Chị lướt hết. Chị xuất hiện ở bốn tấm, đều ở rìa. Nằm trên giường, một câu cứ quay lại: Ngày xưa mình mới là đứa được cô nhớ nhất.
(Chị Ngân, cô Hạnh, Bình, Tuấn, Phương, Hòa và buổi họp lớp trong bài là hư cấu, ghép từ nhiều hoàn cảnh.)
Cái đau không nằm ở bữa tiệc
Cần nói trước: buồn sau một buổi họp lớp như vậy là chuyện rất người. Họp lớp là nơi người ta vô tình mang cả hai mươi lăm năm ra đặt cạnh nhau. Không ai cố ý, nhưng ai cũng thấy.
Nhưng nhìn kỹ đêm thứ Bảy ấy, sẽ thấy nỗi buồn của chị Ngân không đi một mình. Đi cùng nó là một phép tính. Đếm xem mình có mặt trong bao nhiêu tấm ảnh. Nhớ lại ai được cảm ơn trên micro. So chức danh của Phương với chức danh của mình. Rồi đưa ra kết luận: mình đã tụt lại.
Tà kiến nền ở đây, nói gọn:
"Tôi có giá trị vì tôi hơn người khác, và vì người khác nhớ đến tôi. Khi không còn ai nhắc tên, tôi không còn giá trị."
Không ai dạy câu này bằng lời. Nó được dạy bằng bảng xếp hạng cuối kỳ, bằng giấy khen dán trên tường nhà, bằng mười hai năm đi học mà giá trị của một đứa trẻ được đọc to trước lớp theo thứ tự điểm số. Với chị Ngân, việc được cô gọi tên đầu tiên đã từng là bằng chứng hằng ngày rằng mình đáng giá. Hai mươi lăm năm sau, bằng chứng ấy không còn được đọc lên nữa.
Điều bài này soi không phải mong muốn được nhớ đến. Là bước nhảy phía sau: không ai nhắc tên mình, vậy mình kém.
"Cái gì chắc chắn đã là của tôi"
Kinh Ví dụ Con rắn (MN 22) có một đoạn đọc lên như viết cho đêm hôm ấy. Một vị Tỷ-kheo hỏi: có thể có cái gì ở bên ngoài, không thật có, mà gây ra lo âu phiền muộn không? Thế Tôn đáp:
Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người nghĩ như sau: "Cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy". Người đó sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh.
Cái gì đã là của tôi, nay không còn là của tôi. Vị trí lớp trưởng. Chỗ đứng trong trí nhớ của cô chủ nhiệm. Danh hiệu "đứa giỏi nhất lớp". Chị Ngân chưa bao giờ nói ra, nhưng chị đã giữ những thứ ấy như tài sản riêng suốt hai mươi lăm năm. Và đoạn kinh chỉ ra chỗ nỗi sầu bám vào: không phải ở chỗ những thứ ấy mất đi, mà ở chỗ tâm đã nắm chúng là của tôi.
Trong Tương Ưng Uẩn, kinh Chấp thủ và ưu não (SN 22.7), Thế Tôn nói cùng cơ chế ấy ở tầng sâu hơn:
Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: "Ðây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi". Sắc ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
Kinh lặp lại đúng khuôn ấy cho thọ, tưởng, hành, thức. Đoạn kinh nói về năm uẩn, không nói về họp lớp; đem vào hình ảnh "cô học trò giỏi ngày xưa" là vận dụng của bài này. Nhưng cơ chế thì soi thẳng vào chiếc giường chị Ngân nằm đêm đó. Hình ảnh cô lớp trưởng mười tám tuổi được giữ như của tôi, lâu dần thành là tôi. Khi hình ảnh ấy phai đi trong trí nhớ người khác, cái phai được cảm nhận như chính mình đang bị xoá.
Ba hướng kim trong một đêm
Chữ Pāḷi cho động tác đặt mình lên cân là māna, thường dịch là mạn. Nghe "mạn", nhiều người nghĩ ngay tới kiêu căng. Nhưng trong kinh, mạn rộng hơn: nó là chính việc so mình với người, dù kim chỉ về phía nào.
Trong kinh Sona (SN 22.49), Thế Tôn nói với Sona, con một gia chủ, về những người lấy năm uẩn vô thường làm chỗ đứng để so đo:
… quán thức vô thường, khổ, biến hoại là : "Ta tốt đẹp hơn", hay quán: "Ta bằng nhau", hay quán: "Ta hạ liệt hơn"; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những người không thấy như thật!
Cả ba hướng kim có đủ trong một đêm của chị Ngân. Lúc mười giờ: mình tụt lại rồi (hạ liệt hơn). Lúc mười một giờ, để đỡ đau: thôi, ai cũng có số phận, mình cũng sống tử tế như họ (bằng nhau). Lúc nửa đêm, khi hơi giận: hồi đó Tuấn chép bài mình suốt, giờ có tiền thì ra vẻ (tốt đẹp hơn). Ba câu nghe ngược nhau. Kinh xếp cả ba vào cùng một chỗ: không thấy như thật.
Tạng Vi Diệu Pháp còn kể rõ hơn những nền mà mạn đứng lên. Bộ Phân Tích (Vibhaṅga), bản cảo của HT. Tịnh Sự, nói mạn "ta hơn" dựa vào những thứ như:
ỷ có nghề nghiệp, ỷ có nghề giỏi, ỷ có tài cán, ỷ có học vấn hay ỷ với sự cấp trí
Học vấn, tài cán: đúng những thứ một buổi họp lớp đem ra cân. Và điều đáng giật mình là mạn "ta thua" đứng trên cùng những nền ấy. Bộ Phân Tích mô tả người tự coi rẻ mình:
do tài sản, do chức lớn, do chủ sự, do nghề giỏi, do tài hay, do sự học vấn hoặc do cấp trí
rồi gọi tên trạng thái ấy là:
sự ghét mình, sự rất ghét mình, tư cách rất ghét mình, ta coi rẻ ta, sự coi rẻ ta cho rằng hèn hạ xấu xa, cách coi mình kém thiếu
Câu "mình tụt lại rồi" nghe như một nhận xét tỉnh táo, thậm chí khiêm tốn. Tạng Luận gọi đúng tên nó: vẫn là mạn, chỉ là mạn quay mũi vào trong. Cùng một cái thước "chức lớn, nghề giỏi, học vấn" đã từng đặt chị Ngân lên cao, nay đặt chị xuống thấp. Cái thước không đổi. Chỉ con số đổi. Đây là phân tích của Tạng Vi Diệu Pháp, không phải lời thuyết giảng trong Kinh.
"Mình là lớp trưởng gì, khi không ai nhớ tên mình?"
Có một đoạn Chú giải rất gần với tâm trạng ấy. Khi giải thích chín loại mạn, Chú giải Paṭisambhidāmagga (Saddhammappakāsinī; văn bản Pāḷi, câu Việt dưới đây là tạm dịch) kể ví dụ về mạn "ta kém" khởi lên nơi một người thật ra đang ở vị trí cao. Một vị vua mà đất đai, của cải không mấy đầy đủ nghĩ: làm vua chỉ là tiếng gọi cho sướng miệng, ta là vua gì. Một vị xuất gia ít được lợi đắc, cung kính nghĩ: "pháp sư", "đa văn", "đại trưởng lão" chỉ là lời nói suông, ta là đại trưởng lão gì, khi ta không có lợi đắc, cung kính.
Thay "đại trưởng lão" bằng "lớp trưởng ngày xưa", thay "lợi đắc, cung kính" bằng "được cô nhớ tên, được bạn nhắc đến". Câu ấy thành: mình là lớp trưởng gì, khi không ai nhớ tên mình. Nhà Chú giải không gọi ý nghĩ ấy là sự thật về vị kia. Họ gọi nó là mạn. Và cảm giác "mình chẳng là gì" ở đây không đến từ chỗ thiếu phẩm chất. Nó đến từ chỗ đo phẩm chất bằng sự cung kính người khác dành cho mình.
Cùng chỗ ấy, Chú giải nói thêm về tám pháp thế gian: không có chúng sanh nào thoát khỏi chúng, ngay cả chư Phật cũng có. Nghĩa là một buổi họp lớp không ai nhắc tên mình không phải một bất thường của riêng đời chị Ngân. Nó là thời tiết của thế gian.
Mấy giây sau câu "Em là… ai nhỉ?"
Hãy chậm lại, nhìn đúng khoảnh khắc ở bàn thầy cô.
Tai nghe một câu: "Em là… ai nhỉ?" Đó là một sự tiếp xúc. Ngay sau đó là cảm giác trong thân: mặt nóng, cổ họng nghẹn, tay vẫn cầm ly rượu. Cảm giác ấy tự nó chưa đòi gì. Nhưng tâm kể thêm, nhanh hơn cả ý thức: cô không nhớ mình. Rồi sâu hơn: vì mình không còn gì đáng nhớ. Từ câu chuyện ấy nảy ra một thúc bách: phải làm gì đó để cảm giác này đi ngay. Và tâm nắm lấy phản ứng quen:
- Tự kể lại mình. Chen vào một nhóm bạn, kể chuyện ngày xưa mình được giải tỉnh ra sao, chuyện con mình đang học trường chuyên. Không hẳn để chia sẻ, mà để kim cân nhích lại.
- Hạ người kia xuống. "Tuấn giàu nhờ vợ." "Phương lên phó khoa là có người đỡ." Một câu nghĩ thầm, hoặc một câu bóng gió trong nhóm chat riêng với hai người bạn thân.
- Rút lui và tự xử mình. Rời nhóm chat lớp. Hứa với mình sẽ không bao giờ đi họp lớp nữa. Rồi kết luận: mình là kẻ thất bại của lớp.
Ba phản ứng trông khác nhau. Cả ba cùng phục vụ một câu: giá trị của tôi phải được cân lại, và phải ra kết quả không thua.
Luận Thanh Tịnh Đạo của ngài Buddhaghosa (bản Việt của Thích Nữ Trí Hải; luận thư hậu kỳ, không thuộc Kinh tạng) có một câu gọi đúng tên thứ đang chạy trong chị Ngân:
Các loại tham có 5, là tham đối với chỗ ở, quyến thuộc, lợi lộc, pháp, và tiếng khen. Có nghĩa là không chịu nỗi sanh sẻ những thứ này với người khác.
Tiếng khen nằm trong danh sách. Chị Ngân không muốn Phương bị quên. Chị chỉ không chịu nổi chia sẻ trí nhớ của cô chủ nhiệm, như thể chỗ trong trí nhớ ấy có hạn, Phương chiếm thêm một ghế thì mình mất một ghế.
Điểm gãy nằm đúng một chỗ: cảm giác nghẹn ở cổ không đòi mình phải kể lể thành tích, hay rời nhóm chat. Nỗi thèm thoát khỏi cảm giác ấy mới đòi. Khoảng trống giữa lúc cổ vừa nghẹn và lúc ngón tay vừa bấm "rời nhóm" là chỗ người ta thật sự tự do.
Danh vọng và không danh vọng đều là khách
Trong Tăng Chi Bộ, kinh Tùy chuyển thế giới (AN 8.6), Thế Tôn nói về tám pháp thế gian: lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, chỉ trích và tán thán, lạc và khổ. Điều đáng để ý đầu tiên: kinh nói cả người chưa nghe pháp lẫn vị Thánh đệ tử đều gặp chúng. Không ai được hứa là sẽ luôn được nhắc tên. Chỗ khác nhau nằm ở chuyện gì xảy ra sau đó.
Với người chưa nghe pháp, kinh dùng một chữ rất chính xác: danh vọng và không danh vọng "xâm nhập tâm của người ấy và an trú". Và rồi:
Người ấy thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên và nghịch ứng với không lợi dưỡng; thuận ứng với danh vọng được khởi lên và nghịch ứng với không danh vọng
Thuận ứng: được nhắc tên thì dính vào, coi đó là mình. Nghịch ứng: không được nhắc thì chống lại, vật vã. Câu "Em là… ai nhỉ?" chỉ kéo dài ba giây. Nhưng nó dọn vào ở trong chị Ngân cả đêm, cả sáng Chủ nhật, cả tuần sau đó.
Còn vị Thánh đệ tử, khi những điều ấy khởi lên, thì thấy chúng như thế này:
Vị ấy có suy tư: "Lợi dưỡng này khởi lên nơi ta, lợi dưỡng ấy vô thường, đau khổ, biến hoại".
và kinh nói cùng như vậy với danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích. Vì thấy như vậy, vị ấy không thuận ứng với danh vọng được khởi lên, không nghịch ứng với không danh vọng; "Ta nói rằng, vị ấy thoát khỏi khổ". Kinh không dạy bịt tai trước lời gọi tên. Kinh dạy thấy nó đúng như nó là: một người khách đến rồi đi, không phải chủ nhà.
Một cộng đồng hỏi "tên gì?" theo tiêu chuẩn nào
Có một bài kinh trong Tương Ưng Ca-diếp (SN 16.8) mà người từng đi họp lớp đọc sẽ thấy lạ lùng quen thuộc. Thế Tôn nói với Tôn giả Mahākassapa về hai thời của Tăng chúng. Thuở xưa, vị Tỷ-kheo sống ở rừng, thiểu dục, tri túc, viễn ly, tinh cần:
vị Tỷ-kheo ấy được các vị Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, vị Tỷ-kheo này! Thật là muốn học, vị Tỷ-kheo này! Hãy đến Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!"
Các vị trẻ thấy vậy thì noi theo, và kinh ghi:
Các vị ấy thực hành đúng như vậy và như vậy các vị ấy được hạnh phúc, được an lạc trong một thời gian dài.
Còn bây giờ, Thế Tôn nói, người được các Trưởng lão mời ngồi và hỏi "Tỷ-kheo này tên gì?" là vị "được nhiều người biết, có danh tiếng, nhận được các loại y áo, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh". Các vị trẻ cũng noi theo, và lần này:
Các vị ấy thực hành đúng như vậy và như vậy các vị ấy không được hạnh phúc, bị khổ đau trong thời gian dài.
Kinh nói về Tăng đoàn; đem vào một buổi họp lớp là vận dụng của bài này. Nhưng hình ảnh thì rất gần. Cùng một câu hỏi "tên gì?", cùng một chiếc ghế được mời ngồi. Điều thay đổi là tiêu chuẩn của người hỏi. Việc ai được gọi tên trên micro tối thứ Bảy phản ánh điều mà nhóm ấy, tối ấy, đang chú ý tới: ai tài trợ, ai có chức danh dễ giới thiệu. Nó không phải một bản thẩm định giá trị của những người không được gọi. Và kinh còn nói thêm một điều khó nghe: noi theo tiêu chuẩn "được nhiều người biết" không đem lại hạnh phúc, kể cả cho người được gọi tên.
Tên tuổi là cành lá
Kinh Chân Nhân (MN 113) đặt ra một thước đo khác hẳn thước đo của bữa tiệc. Thế Tôn mô tả người phi Chân nhân được nhiều người biết, có danh xưng, rồi nghĩ:
Ta được nhiều người biết, có danh xưng, còn các Tỷ-kheo này được ít người biết đến, không được trọng vọng
Còn người Chân nhân thì nghĩ khác:
Không phải vì mình được nhiều người biết đến mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia không được nhiều người biết, không có danh xưng, và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán
Kinh nói với người xuất gia; áp vào họp lớp là suy luận của bài này, và cần giữ đúng mức. Kinh không nói danh xưng là vô nghĩa. Kinh nói danh xưng không phải thứ làm tham, sân, si giảm đi. Nếu thước đo là tâm có nhẹ đi không, thì một tối không ai gọi tên mình không lấy đi được gì trên cây thước ấy. Và nó cắt cả hai chiều: nó đúng cho Tuấn hôm nay, cũng đúng cho chị Ngân hai mươi lăm năm trước, cái thời chị là người được gọi tên đầu tiên.
Đại Kinh Thí dụ Lõi cây (MN 29) nói cùng ý bằng một hình ảnh dễ nhớ. Thế Tôn mô tả một người được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, rồi vì thế mà khen mình chê người:
Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy. Còn các Tỷ-kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền
Người ấy, theo lời kinh, đã "nắm lấy cành lá của phạm hạnh" và dừng lại ở đó. Rồi kinh đi tiếp từng lớp: giới đức là vỏ ngoài, thiền định là vỏ trong, tri kiến là giác cây. Điều đáng chú ý là kinh không bảo bỏ những thành tựu ấy. Kinh mô tả người có thành tựu mà không lấy nó ra để so:
Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn.
Hoan hỷ nhưng không tự mãn. Chị Ngân có quyền vui khi nhớ lại những năm học giỏi. Chỉ là niềm vui ấy không cần phải được cả lớp xác nhận lại mới còn thật. Và lời kết của bài kinh đặt mọi thứ vào đúng chỗ:
Như vậy, này các Tỷ-kheo, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này các Tỷ-kheo, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây
Kinh nói về mục đích của đời phạm hạnh, không nói về đời học sinh hay đời đi làm. Nhưng hình ảnh thì dùng được: danh hiệu "học sinh giỏi nhất lớp" là cành lá của một thời. Có thì đẹp, rụng thì tiếc. Chỉ khi đã tưởng cành lá là lõi, một buổi họp lớp không ai nhắc tên mình mới giống như cả cái cây bị đốn.
Người "ít người biết đến"
Có một cảnh trong Tương Ưng Sáu Xứ (SN 35.74) đáng đặt cạnh buổi tối ấy. Một vị Tỷ-kheo đến thưa với Thế Tôn:
Trong tịnh xá của chúng con, bạch Thế Tôn, có một tân Tỷ-kheo ít người biết đến, bị bệnh hoạn, đau đớn, bị trọng bệnh.
Kinh ghi tiếp:
Rồi Thế Tôn sau khi nghe tiếng "Mới", nghe tiếng "Bệnh", khi biết được: "Tỷ-kheo ấy ít được người biết đến" liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vị Tỷ-kheo bệnh thấy Thế Tôn đến thì gượng dậy. Thế Tôn nói:
Thôi! Này Tỷ-kheo, Ông chớ có gượng dậy trên giường. Có những chỗ ngồi đã soạn sẵn, tại đấy Ta sẽ ngồi.
Rồi Ngài hỏi han, và cuộc trò chuyện đi đến điều cốt lõi của giáo pháp. Ngài nói:
Với mục đích tham và đoạn tham, này Tỷ-kheo, là pháp Ta dạy.
Cần đọc đoạn kinh này cho đúng. Kinh không có câu nào nói "người ít ai biết đến cũng có giá trị"; bài này không đặt câu ấy vào miệng Thế Tôn. Kinh chỉ ghi một hành động: nghe rằng vị ấy mới, bệnh, ít người biết, và Ngài đi đến. Rồi điều Ngài nói với vị ấy không phải về tên tuổi, mà về tham và đoạn tham. Với người vừa bị quên tên, hình ảnh ấy đáng giữ lại: việc ít người biết đến không phải là một lý do để bị bỏ qua; và điều đáng bàn với nhau, khi đã ngồi xuống, là tâm đang nắm gì, không phải ai được nhớ tên.
"Nhưng chính Thế Tôn cũng nêu tên người xuất sắc mà?"
Người đọc kỹ sẽ đưa ra phản biện này, và nó có căn cứ. Bài không né.
Trong Phẩm Người Tối Thắng của Tăng Chi Bộ (AN 1.14), Thế Tôn nêu tên từng vị đệ tử xuất sắc trước chúng Tỷ-kheo: đại trí tuệ, tối thắng là Sàriputta; có thần thông, tối thắng là Mahàmoggalàna; thuộc gia đình quý tộc, tối thắng là Bhaddiva Kàligodhàputta. Và ngay sau vị xuất thân quý tộc là một cái tên ít ai ngờ:
Trong các vị đệ tử... có âm thanh vi diệu, tối thắng là Lakuntaka (người lùn) Bhaddiya.
Vậy đúng là Thế Tôn có nêu tên, trước đại chúng, những người nổi bật. Ai dùng bài này để nói "nêu tên người giỏi là sai" là đọc sai cả bài lẫn kinh. Anh Bình cảm ơn Tuấn trên micro là một việc bình thường, có khi là việc nên làm.
Nhưng hãy nhìn cách danh sách ấy được dựng. Không có một bảng xếp hạng một chiều, người đứng đầu, người đứng cuối. Mỗi vị được nêu ở một phương diện riêng: người thì trí tuệ, người thì thần thông, người thì giọng nói. Vị xuất thân quý tộc đứng ngay trước một vị được kinh ghi rõ là "người lùn". Danh sách này, đọc đúng, không dạy rằng chỉ có một cái thước. Kinh cũng không nói gì về cảm xúc của những vị không có tên trong phẩm ấy; bài này không suy diễn thay kinh.
"Kinh cũng dạy khen người đáng khen"
Phản biện thứ hai đến từ kinh Potaliya (AN 4.100). Thế Tôn nói với du sĩ Potaliya về bốn hạng người có mặt ở đời, xét theo cách họ khen và chê. Potaliya chọn hạng người không khen ai cũng không chê ai, vì theo ông, "thật là vi diệu tức là xả này". Thế Tôn không đồng ý. Hạng người Ngài xem là cao hơn cả là người:
nói lời không tán thán đối với hạng người không đáng tán thán, đúng sự kiện, đúng sự thật, đúng thời; và nói lời tán thán đối với hạng người đáng được tán thán, đúng sự kiện, đúng sự thật, đúng thời.
Lý do Ngài đưa ra:
Này Potaliya, thật là vi diệu, tức là tại đây, tại đây rõ biết đúng thời.
Vậy theo đúng văn bản: khen người đáng khen, đúng sự thật, đúng lúc, là việc kinh tán thán, cao hơn cả việc giữ im lặng. Nếu Phương thật sự đã tận tụy với bệnh nhân hai mươi năm, lời nhắc tên chị trên micro là xứng đáng.
Nhưng hãy để ý kinh đang nói với ai. Kinh nói về người khen: người ấy nên khen cho đúng. Kinh không nói người đứng nghe phải thấy mình kém đi. Và kinh Chân Nhân ở trên đã cho biết điều gì làm một người "được kính trọng, được tán thán" theo cách nhìn của Chân nhân: hành trì đúng pháp, không phải danh xưng. Lời cảm ơn dành cho Tuấn là lời đánh giá một việc Tuấn đã làm tối nay: trả tiền tiệc. Nó không phải một lời đánh giá chị Ngân. Chính tâm chị Ngân, trong ba giây, đã tự viết thêm câu thứ hai.
"Tiếng tốt cũng là một lợi ích mà?"
Phản biện thứ ba nhẹ hơn, nhưng thật. Trong kinh Người ác hành (AN 5.241), Thế Tôn nói có năm lợi ích cho người thiện hành:
Tự mình không chỉ trích mình; sau khi suy xét, các bậc trí tán thán; tiếng tốt đồn khắp; khi mạng chung, tâm không bị mê loạn
Vậy tiếng tốt không phải thứ xấu. Mong được người khác nhớ đến vì mình đã sống tử tế là mong muốn chính đáng. Bài này không nói danh tiếng là rác.
Nhưng hãy đọc thứ tự. Lợi ích đầu tiên kinh nêu là tự mình không chỉ trích mình. Lời tán thán là của các bậc trí, sau khi suy xét, không phải của bất kỳ ai cầm micro. Và tiếng tốt, theo kinh, là thứ đi theo thiện hành, như một hệ quả. Kinh nói về thiện hành, không nói về chức danh hay thành tích nghề nghiệp; áp vào họp lớp là suy luận của bài này. Nhưng nó chỉ ra một chỗ đứng khác: một người có thể không được nhắc tên ở bất cứ buổi họp lớp nào, mà vẫn có lợi ích thứ nhất trọn vẹn, nếu đêm về, nhìn lại hai mươi lăm năm, mình không có gì phải tự trách.
Phân biệt then chốt: được nhắc tên không phải là giá trị
| Được nhắc tên trong buổi họp lớp | Giá trị của một con người | |
|---|---|---|
| Do đâu mà có | Nhiều duyên: chức danh dễ giới thiệu, ai tài trợ, ai ngồi gần micro, ai gặp thầy cô thường xuyên, trí nhớ của một người đã gần tám mươi | Không phải con số do một buổi tiệc chấm ra |
| Có đổi không | Đổi. Hai mươi lăm năm trước là mình, hôm nay là người khác, mười năm nữa có thể là một người khác nữa | Không có lý do gì để lên xuống theo danh sách người được gọi tên |
| Nếu nắm nó làm "tôi" | Mỗi lần không được nhắc tên là một lần mình bị xoá bớt | — |
| Điều nên làm | Vui khi được nhớ, mừng cho người được nhắc; nếu muốn gặp lại ai, chủ động tìm đến | Không cần chứng minh bằng việc được gọi tên |
Nhưng có một cái bẫy ngay sau cái bảng này, và nó trông rất giống sự giải thoát. Người ta dễ thay câu "tôi có giá trị vì được nhớ tên" bằng câu "tôi có một giá trị cố định bên trong, ai quên tôi cũng không sao." Câu sau nghe dễ chịu hơn, và ở tầng đời sống nó giúp người ta đứng vững. Nhưng ở tầng sâu, nó vẫn là cùng một động tác: đi tìm một cái "tôi" để nắm giữ và được xác nhận. Đoạn SN 22.7 ở trên không bảo tìm một cái tôi tốt hơn để giữ. Nó chỉ ra rằng chính việc giữ "đây là tôi" là chỗ sầu bi bám vào.
Nên có hai tầng, cần giữ cả hai. Ở tầng đời sống: không ai đáng bị coi là "kẻ thất bại của lớp" chỉ vì không có chức danh để giới thiệu trên micro. Ở tầng sâu hơn: câu hỏi không còn là "làm sao để lần sau mình được nhớ tên", mà là "cái gì trong mình đang cần được nhớ tên đến vậy?"
Những điều không được bỏ qua
- Nếu nhiều tuần liền bạn mất ngủ, không còn hứng thú với việc gì, thấy mình vô dụng, xấu hổ đến mức tránh mặt mọi người, hoặc có ý nghĩ làm hại bản thân, đây không còn là chuyện chỉ để tự quán. Hãy nói với một người thân ngay hôm nay và tìm đến bác sĩ hoặc chuyên gia sức khoẻ tinh thần. Trầm cảm ở tuổi trung niên là chuyện có thật và chữa được; đó không phải thất bại trong tu tập.
- Nếu nỗi mặc cảm gắn với khó khăn thật: mất việc, nợ nần, bệnh tật, gia đình tan vỡ, thì những khó khăn ấy cần được giải quyết như những vấn đề thật, bằng hỗ trợ thật (người thân, tư vấn tài chính, pháp lý, y tế). Bài này không nói mọi nỗi đau chỉ là "do mình chấp".
- Nếu trong nhóm lớp có sự chế giễu, bêu riếu, loại trừ có chủ ý, bạn có quyền rời khỏi môi trường ấy, hoặc nói thẳng với người tổ chức. Thấy rõ cơ chế của mạn không có nghĩa là phải chịu đựng sự đối xử tệ.
- Bài này không bảo người được nhắc tên là người xấu, cũng không bảo người tổ chức là sai. Có thể việc nhắc tên hoàn toàn tự nhiên. Có thể nó thiếu tinh tế. Không cần phán xử ai để thấy mình vẫn nguyên vẹn.
Điều có thể thử trong tuần này
- Bắt lấy cảm giác trước câu chuyện. Lần tới khi nghe tên người khác được nhắc mà không có tên mình, để ý mặt, cổ, ngực trong ba hơi thở. Chỉ gọi tên: đây là cái cân. Chưa kết luận gì.
- Viết hai cột. Cột trái: điều thật sự đã xảy ra ("cô Hạnh không nhớ ra tên mình trong ba giây", "mình có mặt trong bốn tấm ảnh"). Cột phải: câu tâm kể thêm ("mình không còn gì đáng nhớ", "mình là kẻ thất bại của lớp"). Nhìn xem câu nào là sự việc, câu nào là cái cân.
- Nhìn lại lợi ích thứ nhất. Tối nay, dành năm phút tự hỏi câu mà AN 5.241 đặt lên đầu: nhìn lại những năm qua, có điều gì mình phải tự trách không? Nếu có, đó là việc đáng làm, một lời xin lỗi, một việc sửa sai. Nếu không, hãy để ý rằng điều ấy không cần ai nhắc tên mới là thật.
- Chủ động tìm đến, không chờ được gọi. Nếu có một người bạn cũ, hay chính cô chủ nhiệm, mà bạn thật sự muốn gặp lại, hãy gọi điện hoặc đến thăm. Không để được nhớ lại, mà vì mình muốn gặp. Để ý xem tâm mình lúc bấm số khác thế nào với tâm mình lúc ngồi chờ ai đó gọi tên.
- Thử nhắc tên một người ít được nhắc. Trong nhóm chat lớp, nhắc đến một người bạn ít ai nhớ, bằng một kỷ niệm cụ thể và đúng sự thật. Không cần ép mình vui. Chỉ quan sát tâm mình co lại hay mở ra.
Dấu hiệu tự kiểm. Không phải "mình hết buồn chưa". Mà là: lần tới không ai nhắc tên mình, mình có nhận ra cái cân sớm hơn một nhịp không? Có buồn được, mà không kết luận gì về giá trị của mình không?
Ba tuần sau, chị Ngân đi xe khách lên thành phố, mang theo một túi cam. Nhà cô Hạnh ở cuối một con hẻm nhỏ. Cô vẫn không nhớ ngay ra chị. Lần này chị không nói "em là lớp trưởng ngày xưa". Chị chỉ nói: "Em là Ngân, em đến thăm cô." Hai cô trò ngồi bóc cam. Cô kể chuyện huyết áp, chuyện đứa cháu nội, chuyện cái cây sứ trước nhà năm nay không ra hoa. Chị nghe, rót nước, lau giúp cô cặp kính.
Lúc chị về, cô tiễn ra tận đầu hẻm, nắm tay chị, bảo: "Lần sau em lại lên nhé." Cô vẫn không gọi tên chị. Chị nhận ra mình không cần cô gọi.
Câu hỏi cộng đồng
Nếu ở buổi họp lớp tới, không ai nhắc đến bạn cả, điều gì trong bạn vẫn còn nguyên? Và điều ấy có cần ai nhớ tên mới là thật không?
Từ ngữ trong bài
- Mạn (māna): phép đo "ta hơn, ta bằng, ta kém". Tự coi rẻ mình, ghét mình cũng là một dạng mạn.
- Tám pháp thế gian (aṭṭha lokadhammā): lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, chỉ trích và tán thán, lạc và khổ.
- Thuận ứng, nghịch ứng: dính vào khi được, chống lại khi mất.
- Chấp thủ: nắm một thứ như "của tôi, là tôi". Khi cái được nắm như vậy đổi khác, sầu bi khởi lên (SN 22.7).
- Chân nhân: người tốt theo nghĩa của Kinh Chân Nhân, người lấy việc tham, sân, si giảm đi làm thước đo, không lấy danh xưng.
- Chú giải: văn bản giải thích Kinh do các nhà Chú giải biên soạn về sau; không phải lời Kinh.
NGUỒN ĐÃ ĐỐI CHIẾU
Mọi câu trích tiếng Việt trong khối trích đã được đối chiếu nguyên văn với các bản dịch ghi dưới đây. Nhãn lớp: [KINH VĂN] chính văn Kinh; [VI DIỆU PHÁP] Tạng Luận; [CHÚ GIẢI] văn bản Pāḷi, câu Việt là tạm dịch; [LUẬN THƯ] luận thư Theravāda; [ỨNG DỤNG] vận dụng của bài.
Kinh Trung Bộ — HT. Thích Minh Châu (trọn bộ 152 kinh)
- MN 22 Kinh Ví dụ Con rắn: người nghĩ "cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi" thì sầu muộn, than vãn. Người nói: Thế Tôn, trả lời một Tỷ-kheo. [KINH VĂN]; áp vào vị trí "học sinh giỏi ngày xưa" là [ỨNG DỤNG].
- MN 113 Kinh Chân Nhân: được nhiều người biết, có danh xưng không làm tham, sân, si đoạn trừ; người không danh xưng mà hành trì đúng pháp thì "được kính trọng, được tán thán". Người nói: Thế Tôn, với các Tỷ-kheo. [KINH VĂN]; bối cảnh xuất gia, áp vào họp lớp là [ỨNG DỤNG].
- MN 29 Đại kinh Thí dụ Lõi cây: vì danh vọng mà khen mình chê người là nắm lấy cành lá; "hoan hỷ nhưng không tự mãn"; tâm giải thoát bất động là lõi cây. Người nói: Thế Tôn, với các Tỷ-kheo. [KINH VĂN]; áp vào danh hiệu học sinh giỏi là [ỨNG DỤNG].
Kinh Tương Ưng Bộ — HT. Thích Minh Châu
- SN 22.7 Chấp thủ và ưu não: quán "đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi" → khi biến hoại, đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não. Người nói: Thế Tôn, với các Tỷ-kheo. [KINH VĂN]; áp vào hình ảnh bản thân ngày xưa là [ỨNG DỤNG].
- SN 22.49 Sona: quán năm uẩn là "ta tốt đẹp hơn / bằng nhau / hạ liệt hơn" là không thấy như thật. Người nói: Thế Tôn, với Sona con một gia chủ. [KINH VĂN]
- SN 16.8 Giáo giới: thuở xưa, vị sống viễn ly, tinh cần được các Trưởng lão mời ngồi, hỏi "Tỷ-kheo này tên gì?", người noi theo được an lạc lâu dài; nay vị được nhiều người biết, có danh tiếng được mời ngồi, người noi theo bị khổ đau lâu dài. Người nói: Thế Tôn, với Tôn giả Mahākassapa. [KINH VĂN]; bối cảnh Tăng đoàn, áp vào họp lớp là [ỨNG DỤNG].
- SN 35.74 Bệnh: câu "tân Tỷ-kheo ít người biết đến" là lời vị Tỷ-kheo thưa và lời người kể kinh; Thế Tôn đi đến, bảo vị ấy chớ gượng dậy, dạy "với mục đích tham và đoạn tham… là pháp Ta dạy". [KINH VĂN]; bài không gán cho Thế Tôn câu "người ít ai biết cũng có giá trị".
Kinh Tăng Chi Bộ — HT. Thích Minh Châu
- AN 8.6 Tùy chuyển thế giới: với phàm phu, danh vọng và không danh vọng xâm nhập tâm và an trú, thuận ứng và nghịch ứng; với Thánh đệ tử, thấy chúng vô thường, khổ, biến hoại, không thuận ứng, không nghịch ứng, thoát khỏi khổ. Người nói: Thế Tôn, với các Tỷ-kheo. [KINH VĂN]
- AN 1.14 Phẩm Người Tối Thắng: Thế Tôn nêu tên các vị đệ tử tối thắng, mỗi vị ở một phương diện riêng (trí tuệ, thần thông, gia đình quý tộc, âm thanh vi diệu…). Người nói: Thế Tôn. [KINH VĂN] Phản chứng, đã trả lời: bài thừa nhận việc nêu tên người xuất sắc là chính đáng; chỉ ra danh sách không phải bảng xếp hạng một chiều; không suy diễn cảm xúc của những vị không được nêu tên.
- AN 4.100 Potaliya: người khen người đáng khen, chê người đáng chê, đúng sự thật, đúng thời là hạng cao hơn cả; việc chọn hạng "không khen không chê" vì cho đó là xả là ý của du sĩ Potaliya. Người nói: Thế Tôn. [KINH VĂN] Phản chứng, đã trả lời: bài giữ nguyên giá trị của việc khen đúng người đúng lúc; chỉ ra kinh nói về người khen, không bảo người đứng nghe phải thấy mình kém.
- AN 5.241 Người ác hành: năm lợi ích của thiện hành, gồm "tự mình không chỉ trích mình", "sau khi suy xét, các bậc trí tán thán", "tiếng tốt đồn khắp". Người nói: Thế Tôn, với các Tỷ-kheo. [KINH VĂN] Phản chứng, đã trả lời: bài không nói tiếng tốt là xấu; chỉ ra thứ tự trong kinh và tiếng tốt là quả đi theo thiện hành; áp vào họp lớp là [ỨNG DỤNG].
Tạng Vi Diệu Pháp — HT. Tịnh Sự (Mahāthero Santakicco), cảo bản
- Bộ Phân Tích (Vibhaṅga) §883–885: mạn "ta hơn" dựa vào nghề nghiệp, nghề giỏi, tài cán, học vấn, cấp trí; mạn "ta thua" dựa trên cùng những nền ấy, là "sự ghét mình, sự rất ghét mình… cách coi mình kém thiếu". Người nói: Tạng Abhidhamma. [VI DIỆU PHÁP] — không phải lời thuyết giảng trong Kinh.
Chú giải — văn bản Pāḷi CSCD (Chaṭṭha Saṅgāyana), không có bản dịch Việt; câu Việt trong bài là tạm dịch
- Saddhammappakāsinī, giải Paṭisambhidāmagga (Ñāṇakathā): mạn "ta kém" của vị vua ("ta là vua gì") và của vị xuất gia ít lợi đắc, cung kính ("ta là đại trưởng lão gì…"); không chúng sanh nào thoát khỏi tám pháp thế gian, chư Phật cũng có. Người nói: nhà Chú giải, không gán cho Thế Tôn. [CHÚ GIẢI] Phản chứng, đã trả lời: cảm giác "mình chẳng là gì" khi không được nhớ đến được gọi là mạn, không phải sự thật về mình; gặp pháp thế gian không phải lỗi.
Luận thư — Thanh Tịnh Đạo, Buddhaghosa, bản Việt Thích Nữ Trí Hải (dịch qua bản Anh của Ñāṇamoli)
- Thanh Tịnh Đạo XXII.52: năm loại tham gồm tham đối với tiếng khen, "không chịu nỗi sanh sẻ những thứ này với người khác". Người viết: Buddhaghosa, luận thư hậu kỳ. [LUẬN THƯ]
Tham chiếu, không trích trong thân bài: SN 22.7 vế đối (vị Thánh đệ tử không khởi sầu bi); MN 22 "có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: cái này là của tôi"; MN 113 phần các hạnh đầu đà; MN 30 Tiểu kinh Dụ Lõi cây; AN 8.5 tám pháp thế gian; AN 5.30 Nāgita; AN 4.185; SN 22.91 Rāhula; SN 22.1, lời Tôn giả Sāriputta; Trưởng Lão Tăng Kệ, kệ của Trưởng lão Vaṅgīsa; Luật Tiểu Phẩm, Tôn giả Bhaddiya "Ôi sự an lạc!"; Bộ Phân Tích, sự tự khinh; Chú giải Sn 213; Chú giải Thag; Phụ chú giải MN; Phụ chú giải DN 1; Thanh Tịnh Đạo.
[DIỄN GIẢI TRUE DHAMMA]: tà kiến nền "tôi có giá trị vì hơn người và vì được nhớ đến; không ai nhắc tên nghĩa là tôi không còn giá trị"; ba hướng kim của cùng một cái cân trong một đêm; ba kiểu phản ứng; "việc ai được gọi tên phản ánh tiêu chuẩn của nhóm, không phải bản thẩm định người không được gọi"; "danh hiệu học sinh giỏi là cành lá của một thời"; bảng "được nhắc tên / giá trị"; hai tầng quy ước và vô ngã; năm việc thử trong tuần. Nhân vật chị Ngân, cô Hạnh, Bình, Tuấn, Phương, Hòa là hư cấu tổng hợp.
Dữ kiện ngoài kinh điển: bài không dẫn số liệu hay nghiên cứu tâm lý nào. Các lưu ý về sức khoẻ tinh thần, khó khăn tài chính, sự chế giễu trong nhóm là lời khuyên phổ thông, không phải tư vấn chuyên môn hay pháp lý.