Có những email chỉ dài bốn dòng mà đọc xong thì cả buổi chiều như sụp xuống: "Cảm ơn bạn đã dành thời gian. Sau khi cân nhắc kỹ, chúng tôi quyết định tiếp tục với ứng viên khác." Cái mất trên giấy là một vị trí công việc. Nhưng cái mất trong lòng thường lớn hơn nhiều: vậy là mình không đủ tốt. Bài này không bảo bạn đừng buồn, cũng không bảo vòng phỏng vấn ấy chẳng có gì đáng tiếc. Nó chỉ tách hai thứ hay bị dán vào nhau ngay trong khoảnh khắc đọc email: kết quả của một buổi phỏng vấn và giá trị của một con người.
Bốn dòng email lúc 4 giờ 12 phút chiều
Vy hai mươi bảy tuổi, làm thiết kế ở một công ty quảng cáo nhỏ. Từ năm thứ hai đại học, cô đã theo dõi một studio thiết kế có tiếng ở Sài Gòn: lưu từng dự án của họ vào một thư mục riêng, đọc mọi bài phỏng vấn của người sáng lập. Khi studio đăng tuyển, cô làm lại toàn bộ hồ sơ năng lực trong ba tuần, thức đến một giờ sáng gần như mỗi đêm.
Cô qua vòng hồ sơ. Qua bài test. Qua vòng phỏng vấn với trưởng nhóm. Vòng cuối, cô ngồi trước chính người sáng lập mà cô đã đọc phỏng vấn suốt sáu năm. Buổi nói chuyện kéo dài hơn dự kiến hai mươi phút. Ra về, cô nhắn cho mẹ: "Chắc lần này được rồi mẹ ơi."
Năm ngày sau, 4 giờ 12 phút chiều, email đến. Bốn dòng.
Cô đọc lại ba lần, như thể lần thứ tư chữ sẽ đổi. Rồi cô úp điện thoại xuống bàn. Ngực thắt lại, mặt nóng ran. Trong đầu chỉ có một câu, lặp đi lặp lại: mình đã cố hết sức, và hết sức của mình vẫn không đủ. Tối đó cô không trả lời tin nhắn của mẹ. Cô mở thư mục sáu năm lưu dự án của studio, nhìn một lúc, rồi bấm xoá.
(Vy là nhân vật hư cấu, ghép từ nhiều hoàn cảnh.)
Vì sao một lời từ chối lại nghe như một bản án
Nếu đó chỉ là một công việc, trượt thì tiếc, rồi nộp nơi khác. Nhưng "công việc mơ ước" không chỉ là một công việc. Nó là một hình ảnh về chính mình trong tương lai: người làm ở studio ấy. Sáu năm theo dõi đủ lâu để một mong muốn đổi tên thành căn cước. Vì vậy, khi studio nói "không", tai người nghe không nghe thấy "chúng tôi chọn người khác cho vị trí này". Tai nghe thấy: "bạn không phải là người như bạn tưởng."
Phía sau là một phương trình ít ai nói ra:
"Kết quả bên ngoài cho biết tôi là ai."
Không ai dạy câu này bằng lời. Nó được dạy bằng bảng điểm, bằng giấy khen, bằng câu "con nhà người ta vừa vào được công ty lớn", bằng những dòng "rất vui được thông báo tôi đã gia nhập…" trên mạng. Nó còn được dạy bằng chính niềm vui có thật mỗi khi mình được chọn. Vậy nên phải tách cho cẩn thận. Muốn có công việc ấy là chính đáng. Cố gắng ba tuần là đáng quý. Buồn khi trượt là bình thường. Điều bài này soi là bước nhảy phía sau: được chọn thì tôi có giá trị; bị loại thì tôi kém.
Kinh gọi tên tám thứ xoay vòng
Trong Kinh Tăng Chi, bài kinh về các pháp thế gian (AN 8.6), Thế Tôn nói về tám điều sanh khởi cho mọi người: lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, chỉ trích và tán thán, an lạc và đau khổ. Một lời mời nhận việc là "lợi dưỡng". Một email từ chối là "không lợi dưỡng". Chúng đến với cả kẻ phàm phu lẫn bậc Thánh. Chỗ khác nhau nằm ở việc gì xảy ra trong tâm sau đó.
Với người không nghe pháp, Đức Phật dạy rằng người ấy không suy xét được điều đang đến là vô thường, và vì thế:
không lợi dưỡng xâm nhập tâm của người ấy và an trú
Xâm nhập, rồi an trú. Đọc chữ này mà nhớ đến buổi tối của Vy. Email chỉ đến một lần, lúc 4 giờ 12. Nhưng đến 11 giờ đêm, nó vẫn còn ở đó, đã dọn vào ở, đã đặt lại tên cho cả căn nhà. Kinh tả tiếp hai chuyển động của người ấy:
Người ấy thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên và nghịch ứng với không lợi dưỡng
Lúc ra khỏi phòng phỏng vấn, Vy "thuận ứng": "chắc lần này được rồi". Lúc đọc email, cô "nghịch ứng": xoá cả thư mục sáu năm. Cùng một cái tâm, chỉ đổi chiều.
Còn với vị Thánh đệ tử có nghe pháp, khi tám pháp ấy khởi lên, Thế Tôn nói:
Vị ấy có suy tư: "Lợi dưỡng này khởi lên nơi ta, lợi dưỡng ấy vô thường, đau khổ, biến hoại".
và kinh nói tiếp, ở trang kế, rằng vị ấy:
không thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên, không nghịch ứng với không lợi dưỡng
Không có chữ nào nói vị Thánh đệ tử được miễn bị từ chối. Chỉ có chữ nói lời từ chối không vào ở được trong tâm vị ấy. Câu hỏi đáng mang theo vì thế không phải "làm sao để lần sau chắc chắn được nhận", mà là "lời từ chối này có đang dọn vào ở trong mình không?"
Cái thước "hơn – bằng – kém" mà mình tự cầm
Khi một người nói "mình không đủ tốt", câu ấy đã ngầm có một cái thước. Tốt so với ai? Với ứng viên được chọn, người mình chưa từng gặp. Với hình ảnh mình đã vẽ ra trong sáu năm. Với bạn cùng lớp vừa đăng ảnh thẻ nhân viên mới.
Trong Kinh Soṇa (SN 22.49), Thế Tôn nói với Soṇa, con một gia chủ, về những ai lấy thân và tâm vốn vô thường, khổ, biến hoại làm chỗ đứng để so đo. Họ quán:
"Ta tốt đẹp hơn", hay quán: "Ta bằng nhau", hay quán: "Ta hạ liệt hơn"; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những người không thấy như thật!
Điều đáng dừng lại là vế thứ ba: "Ta hạ liệt hơn". Kinh không chỉ nói người tự cao là không thấy như thật. Kinh xếp người tự thấy mình kém vào cùng một hàng. Ý nghĩ "mình không đủ tốt" sau một email từ chối, theo bài kinh này, không phải là khiêm tốn, cũng không phải là nhìn thẳng sự thật. Nó là cùng một cái thước, chỉ là lần này con trỏ chỉ xuống dưới.
Rồi Thế Tôn hỏi Soṇa một câu, cũng trong kinh ấy:
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
Soṇa đáp: không. Cái thước đo hơn kém cần một cái "tôi" cố định để đặt lên bàn cân. Khi cái được đặt lên vốn đang đổi thay, kỹ năng hôm nay, phong độ hôm nay, hồ sơ hôm nay, thì phép đo ấy ngay từ đầu đã đứng trên một chỗ không vững.
Ở một bài kinh khác (AN 4.185), Thế Tôn nói với các du sĩ về người thấy được sự thật "Mọi dục là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại". Người ấy, vì thấy vậy:
không nghĩ đến: "Ta hơn (các người khác)", không nghĩ đến: "Ta bằng (các người khác)", không nghĩ đến: "Ta là hạ liệt".
Tạng Vi Diệu Pháp: "ta thua" cũng là một dạng mạn
Tạng Vi Diệu Pháp, trong Bộ Phân Tích (Vibhaṅga, bản dịch HT. Tịnh Sự), phân tích kỹ hơn cái thước ấy. Đây là phân tích ở tầng Abhidhamma, không phải lời thuyết giảng trong Kinh. Văn bản liệt kê những chỗ người ta dựa vào để khởi mạn "ta hơn" (seyyohamasmīti māno), trong đó có:
ỷ có nghề nghiệp, ỷ có nghề giỏi, ỷ có tài cán, ỷ có học vấn
Đúng những thứ một hồ sơ xin việc được dựng lên để chứng minh. Và ở mặt kia của cùng cái thước, văn bản gọi tên sự tự khinh (omāna):
tự khinh do nghề giỏi, tự khinh do tài năng, tự khinh do học vấn
Văn bản còn nói đến một dạng mạn chấp vào:
phận sự công việc, ô uế với nghề nghiệp, ô uế với tài năng, ô uế với học vấn
Điều đáng chú ý thực tế là: niềm tự hào khi được gọi vào vòng cuối và nỗi tự khinh khi bị loại ở vòng cuối dựa trên cùng một chỗ. Cùng nghề nghiệp, cùng tài năng, cùng học vấn. Cái thước không đổi, chỉ con số đổi. Chừng nào còn cầm nó, mỗi email từ nhà tuyển dụng còn có quyền dời mình lên xuống.
Chú giải đi thêm một bước, và rất gần với cảm giác của Vy. Khi giải thích chín loại mạn trong Kinh Phúng Tụng (DN 33), Chú giải Pāḷi (Sumaṅgalavilāsinī, tầng Chú giải, không thuộc Kinh văn) nói đến mạn "người hơn mà nghĩ mình kém". Ví dụ được nêu là một vị xuất gia ít được lợi đắc, cung kính, rồi tự nghĩ: kiṃ dhammakathiko nāmāhaṃ kiṃ bahussuto kiṃ mahāthero yassa me lābhasakkāro natthi.
Tạm dịch [T]: "Ta là pháp sư gì, đa văn gì, đại trưởng lão gì, khi ta chẳng có lợi đắc cung kính nào." Chú giải gọi ý nghĩ ấy là mạn. Đổi khung cảnh sang đời nay, nó gần như là câu: "Mình là designer gì, khi chẳng studio nào nhận." Theo Chú giải, tự hạ giá mình vì thiếu kết quả bên ngoài không phải là thoát khỏi cái tôi; đó vẫn là cái tôi, đang đo mình bằng thứ bên ngoài.
Kinh Chân Nhân: thành tựu không làm tham sân si đoạn trừ
Có một bài kinh đặt thẳng câu hỏi "điều gì làm một người đáng kính?". Trong Kinh Chân Nhân (MN 113), Thế Tôn kể ra từng thứ người ta hay dựa vào: xuất thân, danh xưng, vật dụng nhận được, học rộng, giỏi luật, giỏi thuyết pháp, cả các tầng thiền. Với danh xưng, người phi Chân nhân nghĩ:
Ta được nhiều người biết, có danh xưng, còn các Tỷ-kheo này được ít người biết đến, không được trọng vọng
Còn người Chân nhân nghĩ:
Không phải vì mình được nhiều người biết đến mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia không được nhiều người biết, không có danh xưng, và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán
Bối cảnh là đời sống xuất gia, và đem nó vào chuyện phỏng vấn là vận dụng. Nhưng hướng của bài kinh rất rõ: có danh xưng không tự làm người ta tốt hơn; thiếu danh xưng mà sống đúng thì vẫn đáng kính. Kinh còn đi xa đến mức áp cùng khuôn ấy cho cả những thành tựu thiền định. Người phi Chân nhân vì chứng thiền mà khen mình chê người. Người Chân nhân thì nghĩ khác:
Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác
Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh yếu, không khen mình chê người vì chứng được định sơ Thiền.
Nếu ngay cả một tầng thiền cũng không được dùng làm thước đo hơn người, thì một tấm thẻ nhân viên càng không.
Cần đọc cho đúng: kinh không nói thành tựu là xấu. Kinh nói thành tựu không phải chỗ để dựng "ta hơn", và thiếu nó không phải chỗ để dựng "ta kém".
Mười giây sau khi đọc email
Quay lại chiều hôm ấy.
Mắt đọc bốn dòng chữ. Đó là một sự tiếp xúc. Ngay sau đó, trong thân: ngực thắt, mặt nóng, bụng chùng xuống. Cảm giác ấy tự nó chưa đòi gì. Nhưng tâm kể thêm, nhanh hơn cả ý thức: ba tuần vứt đi. Người ta chọn người giỏi hơn mình. Mình đã nói với mẹ là được rồi. Mình chẳng ra gì. Từ câu chuyện ấy nảy ra một thúc bách: phải làm gì đó để cảm giác này đi ngay.
Mỗi người nắm một kiểu phản ứng:
- Xoá dấu vết. Xoá thư mục, bỏ theo dõi trang của studio, không kể với ai mình từng thi vào đó.
- Tự xử án. Phát lại trong đầu từng câu trả lời, tìm ra câu "ngu nhất", rồi kết luận mình không có năng lực.
- Hạ giá cái mình không có được. "Studio đó cũng chỉ vậy thôi", "chắc họ có người quen". Có thể có phần đúng, nhưng câu chuyện được kể để mình khỏi phải chạm vào cảm giác kia.
- Nộp ồ ạt. Gửi hai mươi hồ sơ trong một đêm, không phải vì đã chọn kỹ, mà vì một ngày không có "dấu hiệu được chọn" là một ngày không chịu nổi.
Cả bốn phục vụ cùng một câu: tôi phải được ai đó chọn thì mới chứng minh được mình có giá trị. Mỗi lần một phản ứng "có tác dụng", câu ấy được nuôi thêm một chút. Lần sau, một lời từ chối nhỏ hơn cũng đủ đánh sập mình.
Điểm gãy nằm ở đúng một chỗ: cảm giác thắt ngực không đòi mình phải xoá, phải tự xử án hay phải nộp ồ ạt. Nỗi thèm thoát khỏi cảm giác ấy mới đòi. Khoảng trống giữa lúc ngực vừa thắt và lúc câu "mình chẳng ra gì" vừa thành hình là chỗ mình thật sự có lựa chọn.
Ba câu phản biện phải trả lời thẳng
"Kinh chẳng phải nói hơn kém là do nghiệp sao? Trượt tức là mình kém."
Đúng là kinh có nói đến hơn kém. Trong Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt (MN 135), thanh niên Subha hỏi vì sao giữa loài người có người liệt, người ưu. Thế Tôn đáp:
Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu.
Bài này không phủ nhận điều ấy, và không nói hơn kém là không có thật. Nhưng hãy đọc tiếp xem kinh gắn "liệt" và "ưu" với cái gì. Kinh kể ra từng hành động. Chẳng hạn, có người:
ngạo nghễ, kiêu mạn, không đảnh lễ những người đáng đảnh lễ
và kinh nói người ấy, do nghiệp ấy, sanh vào gia đình hạ liệt. Ở phần kết, kinh nói người đầy đủ trí tuệ là người chịu đến hỏi bậc hiểu biết xem thế nào là thiện, thế nào là bất thiện; người trí tuệ yếu kém là người:
sau khi đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn, không hỏi: "Thưa Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện?
Đọc đúng văn bản: thứ kinh gắn với "liệt" và "ưu" là hành động có chủ ý: kiêu mạn hay khiêm cung, tật đố hay tùy hỷ, chịu học hay không chịu học. Kinh không nói một lần trượt phỏng vấn là quả của một nghiệp xấu cụ thể nào, và bài này cũng không cho phép ai dùng kinh để phán như vậy về người khác hay về chính mình. Có một chi tiết đáng nghĩ: trong danh sách hành động ấy, kinh nêu cả người tật đố khi người khác được quyền lợi, được tôn trọng. Cái tâm muốn hạ ứng viên được chọn xuống để mình đỡ đau, theo bài kinh này, mới là thứ đáng để ý, hơn là bản thân việc bị loại.
"Kinh nói người ta thành gì là do hành động. Vậy không có thành tích thì là không có giá trị?"
Trong Kinh Vāseṭṭha (MN 98), hai thanh niên Bà-la-môn tranh luận người ta là Bà-la-môn do huyết thống hay do hành động. Thế Tôn đáp bằng kệ:
Không phải do sanh đẻ, Ðược gọi Bà-la-môn, Không phải do sanh đẻ, Gọi phi Bà-la-môn. Chính do sự hành động Ðược gọi Bà-la-môn, Chính do sự hành động Gọi phi Bà-la-môn.
Câu kệ này rất mạnh, và không được đọc nhẹ đi: kinh coi trọng hành động. Nhưng hành động và thành tích là hai thứ khác nhau. Hành động là điều mình đang làm, bằng tâm gì: chuẩn bị nghiêm túc hay qua loa, trả lời thật hay tô vẽ, đối xử tử tế với người phỏng vấn hay không. Thành tích là một kết quả đã được người khác công nhận: lời mời nhận việc, chức danh, logo công ty trên hồ sơ. Một người có thể hành động rất tốt mà không được chọn, vì vị trí chỉ có một, vì người kia hợp hơn với một dự án cụ thể, vì những lý do mình không bao giờ biết. Câu kệ đặt giá trị vào hành động, không đặt vào việc được chọn.
"Vậy thì thôi cố gắng làm gì nữa?"
Không. Và kinh không cho phép đọc như vậy. Trong Đại Kinh Xóm Ngựa (MN 39), Thế Tôn muốn đời tu của các vị Tỷ-kheo "có kết quả, có thành tích", và khi các vị có thể tự thấy "như vậy là vừa đủ", Ngài khuyến cáo:
chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
Cùng bài kinh, Ngài nói về thân hành thanh tịnh rồi thêm ngay:
Nhưng chúng ta không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người
Nỗ lực được đề cao. Dùng kết quả để nâng mình hạ người thì không.
Tiểu kinh Dụ Lõi Cây (MN 30) nói rõ hơn nữa. Thế Tôn nói với Bà-la-môn Piṅgalakoccha về người tự mãn với thành tựu, khen mình chê người, và vì thế dừng lại, "trở thành biếng nhác và thụ động". Còn người đi đúng hướng thì hoan hỷ mà không tự mãn, không khen mình chê người, và:
Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động.
Đại kinh Thí dụ Lõi Cây (MN 29) dùng một cụm chữ đáng nhớ cho người ấy:
Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn.
Kinh cũng gọi lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng là cành lá của cây, không phải lõi. Bối cảnh vẫn là đời xuất gia; áp vào chuyện nghề nghiệp là vận dụng. Nhưng thứ tự rất rõ: buông việc lấy kết quả làm thước đo mình không đi cùng với buông nỗ lực. Ngược lại, người không còn phải chứng minh mình qua từng lần được chọn thường cố gắng bền hơn, vì một lần trượt không còn là một lần sụp đổ.
Phân biệt then chốt: giá trị bản thân không phải là thành tích
| Kết quả phỏng vấn, thành tích | Giá trị của một con người | |
|---|---|---|
| Ví dụ | Lời mời nhận việc, chức danh, tên công ty trên hồ sơ | Không đo bằng những thứ ấy |
| Phụ thuộc vào | Số vị trí, người cạnh tranh, nhu cầu của bên tuyển, cả phần chuẩn bị của mình | Không phụ thuộc vào một email bốn dòng |
| Khi không đạt | Có bài học thật: kỹ năng cần luyện, câu trả lời cần chuẩn bị lại | Không có lý do gì để giảm theo |
| Thứ thật sự theo mình | — | Cách mình đã chuẩn bị, đã nói, đã đối xử với người khác |
| Nên làm gì | Xin phản hồi nếu được, luyện tiếp, nộp tiếp | Không cần chứng minh |
Nhưng ngay sau cái bảng có một cái bẫy, và nó trông rất giống sự giải thoát. Người ta dễ thay câu "tôi có giá trị vì được chọn" bằng câu "tôi có một giá trị bất biến bên trong, không lời từ chối nào chạm được." Câu sau nghe nhẹ hơn. Nhưng nó vẫn là cùng một động tác: đi tìm một cái "tôi" để nắm và để được xác nhận, lần này ở vạch cao nhất.
Kinh không đi theo hướng ấy. Khi Tôn giả Rāhula hỏi phải thấy thế nào để không còn ngã mạn, Thế Tôn dạy rằng mọi sắc, thọ, tưởng, hành, thức, kể cả cái "hoặc liệt hay thắng", được thấy với chánh trí tuệ như sau:
"Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", thì sẽ được giải thoát, không có chấp thủ.
Và trong Kinh Vô Thường Tánh (SN 22.102), Thế Tôn dùng hình ảnh người làm ruộng mùa thu cày đứt các rễ cỏ, rồi nói:
do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.
Phụ chú giải Pāḷi (Mūlapaṇṇāsa-ṭīkā, tầng Phụ chú giải, không thuộc Kinh văn) giải thích cùng hướng ấy, khi phân biệt ba cách nắm "của tôi, tôi là, tự ngã tôi": Yāya saññāya mānaggāhassa vikkhambhanā, sā aniccasaññā aniccānupassanā.
Tạm dịch [T]: "Tưởng nào chế ngự được sự nắm giữ bằng mạn, tưởng ấy là vô thường tưởng, là quán vô thường." Thanh Tịnh Đạo của ngài Buddhaghosa (tầng luận thư, không thuộc Kinh văn) còn chỉ ra rằng cái thước ấy có thể len vào cả chỗ tưởng là tiến bộ nhất. Dẫn một luận cổ, ngài viết:
Không có sự từ bỏ kiêu mạn nơi một người thấy như sau: Tôi đã thấy suốt với tuệ quán, tôi thấy rõ với tuệ quán
Nghĩa là: ngay cả "tôi đã hiểu ra mình không cần được công nhận" cũng có thể thành một tấm huy chương mới để đeo. Vì vậy cần giữ cả hai tầng. Ở tầng đời sống: không ai đáng bị gọi là "không đủ tốt" chỉ vì một lần trượt phỏng vấn; người chuẩn bị nghiêm túc, trả lời thành thật, dù không được chọn, không mất đi chút phẩm giá nào. Ở tầng sâu hơn: câu hỏi không còn là "làm sao để tôi thấy mình có giá trị trở lại", mà là "cái gì trong tôi đang đòi một email xác nhận như vậy?" Cái đòi ấy cũng vô thường. Nhìn thấy nó đến và đi chính là chỗ cái thước bắt đầu lỏng tay.
Những điều không được bỏ qua
- Nếu nỗi nặng nề kéo dài nhiều tuần: mất ngủ, bỏ ăn, không muốn ra khỏi nhà, thấy mình vô dụng, hay có ý nghĩ làm hại bản thân, đó không còn là chuyện để tự quán một mình. Hãy nói với người thân ngay hôm nay và tìm đến bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý. Trầm cảm sau những lần bị từ chối liên tiếp là chuyện có thật và chữa được.
- Nếu việc trượt kéo theo áp lực tài chính thật: đang thất nghiệp, nợ học phí, phải gửi tiền về nhà, thì nỗi lo ấy là thật, không phải "chấp". Kinh cũng nói nghèo khổ, mắc nợ là khổ với người sống đời tại gia. Hãy tính chuyện sinh kế trước mắt, tìm người tư vấn nghề nghiệp, đừng để nỗi xấu hổ khiến mình trì hoãn những việc phải làm.
- Nếu bạn nghi mình bị loại vì lý do không công bằng (giới tính, tuổi, vùng miền, tình trạng sức khoẻ), đó là vấn đề có thể cần tìm hiểu quyền lợi của người lao động, không phải chỉ là chuyện tự quán.
- Bài này không khuyên đừng mơ công việc tốt nữa, cũng không khuyên nhắm mắt nộp ồ ạt. Nó chỉ tách một kết quả tuyển dụng khỏi phán quyết về con người.
Điều có thể thử trong tuần này
- Đổi câu. Mỗi lần trong đầu vang lên "mình không đủ tốt", thử nói lại bằng một câu chỉ có sự kiện: "Studio đã chọn một ứng viên khác cho vị trí này." Để ý cảm giác trong thân khác nhau thế nào giữa hai câu. Không cần ép mình tin câu nào; chỉ thấy câu nào là dữ kiện, câu nào là bản án.
- Kẻ hai cột. Cột trái: "những điều tôi có thể chuẩn bị khác đi". Cột phải: "những điều ngoài tầm tay tôi". Viết thật, không bào chữa, không tự hành hạ. Cột trái là chỗ để học. Cột phải là chỗ để thấy vô thường. Không cột nào là chỗ để viết "tôi là ai".
- Ngồi với cái thắt ngực năm phút. Khi cảm giác ấy đến, trước khi xoá, trước khi tự xử án, trước khi mở trang tuyển dụng lên nộp tiếp, dừng lại. Chỉ gọi tên: đây là thắt, đây là nóng. Không cần sửa nó. Chỉ thấy nó tự đổi khác.
- Để ý cái thước khi người khác được chọn. Lần tới thấy ai đăng tin nhận việc mới, quan sát xem trong mình khởi lên "ta hơn", "ta bằng" hay "ta kém". Chỉ nhận ra, không cần xua đi. Nhận ra là đã không còn hoàn toàn bị nó cầm.
- Viết lại email trả lời. Nếu được, gửi một lời cảm ơn ngắn đến nhà tuyển dụng và xin phản hồi. Không phải để níu kéo, mà để thấy mình có thể làm một việc tử tế ngay lúc vừa bị từ chối. Đó là hành động, và hành động là thứ theo mình.
Dấu hiệu tự kiểm. Không phải "mình hết buồn chưa". Mà là: lần tới mở một email tuyển dụng, mình có thấy cái thước "được – mất" giơ lên sớm hơn một nhịp không? Và khi nó giơ lên, mình có nhận ra nó chỉ là một cái thước, không phải là mình, không?
Hai tuần sau, Vy nhận được thư trả lời của trưởng nhóm studio, cho lời email cảm ơn cô đã gửi. Họ nói bài test của cô tốt, nhưng vị trí cần người có kinh nghiệm làm nhận diện thương hiệu, phần mà hồ sơ cô còn mỏng. Cô đọc, lần này không úp điện thoại xuống. Cô mở một thư mục mới, đặt tên "nhận diện thương hiệu – tự luyện". Thư mục cũ thì đã xoá rồi. Cô không tiếc nó lắm. Thứ cô mang theo từ sáu năm ấy chưa bao giờ nằm trong thư mục đó.
Một buổi phỏng vấn có thể đậu, có thể trượt, có thể trượt vì mười lý do trong đó có ba lý do là mình. Đậu hay trượt, nó là một pháp thế gian, đến rồi đi. Thứ theo mình ra khỏi phòng phỏng vấn không phải lời mời nhận việc, mà là cách mình đã chuẩn bị, đã nói, đã đối xử với người khác, và cách mình đang sống với lời từ chối này.
Câu hỏi cộng đồng
Nếu phải giới thiệu bản thân mà không được nhắc đến trường học, công ty hay chức danh nào, bạn sẽ nói câu đầu tiên là gì?
Từ ngữ trong bài
- Tám pháp thế gian (aṭṭha lokadhammā): lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, chỉ trích và tán thán, an lạc và đau khổ. AN 8.6 nói chúng sanh ra cho cả phàm phu lẫn bậc Thánh; chỗ khác là chúng có "xâm nhập tâm và an trú" hay không.
- Mạn (māna): phép đo "ta hơn, ta bằng, ta kém". Tự khinh (omāna): tự coi rẻ mình; theo Bộ Phân Tích, có thể khởi lên do chính nghề nghiệp, tài năng, học vấn.
- Chân nhân: người lấy con đường thực hành làm chính, không dùng xuất thân, danh xưng hay thành tựu để khen mình chê người (MN 113).
- Nghiệp: hành động có chủ ý qua thân, lời, ý. MN 135 gắn sự khác biệt "liệt – ưu" với những hành động ấy, không với một kết quả đơn lẻ.
- Vô thường tưởng: sự ghi nhận lặp lại rằng các pháp đang đổi thay; SN 22.102 nói tu tập nó làm ngã mạn được tận trừ.
NGUỒN ĐÃ ĐỐI CHIẾU
Mọi câu trích tiếng Việt trong khối trích đã được đối chiếu nguyên văn với các bản dịch ghi dưới đây. Bản có neo trang dùng cho kiểm chứng nội bộ được lưu trong hồ sơ của bài.
Trung Bộ — bản dịch HT. Thích Minh Châu (trọn bộ 152 kinh)
- MN 113 Kinh Chân Nhân: người phi Chân nhân dựa vào danh xưng, thiền chứng mà khen mình chê người; người Chân nhân nghĩ "không phải vì mình được nhiều người biết đến mà các tham pháp đi đến đoạn trừ", người không danh xưng mà hành trì đúng pháp vẫn được kính trọng. Người nói: Thế Tôn, với các Tỷ-kheo. [KINH VĂN, lớp A]
- MN 29 Đại kinh Thí dụ Lõi Cây: "hoan hỷ, nhưng không tự mãn"; lợi dưỡng, danh vọng là cành lá, không phải lõi. Người nói: Thế Tôn. Bối cảnh xuất gia; áp vào nghề nghiệp là [ỨNG DỤNG]. [KINH VĂN, lớp A]
- MN 30 Tiểu kinh Dụ Lõi Cây: người không tự mãn thì "phát khởi lòng ao ước và tinh tấn", "không trở thành biếng nhác và thụ động". Người nói: Thế Tôn, với Bà-la-môn Piṅgalakoccha. [KINH VĂN, lớp B]
- MN 39 Đại Kinh Xóm Ngựa: "chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa"; "không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người". Người nói: Thế Tôn. Phản chứng về nỗ lực, đã trả lời. [KINH VĂN, lớp B]
- MN 98 Kinh Vāseṭṭha: "Chính do sự hành động / Ðược gọi Bà-la-môn". Người nói: Thế Tôn (kệ đáp thanh niên Vāseṭṭha). Phản chứng, đã trả lời. [KINH VĂN, kệ, lớp B]
- MN 135 Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt: "nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu"; người kiêu mạn sanh vào gia đình hạ liệt; người không hỏi thiện, bất thiện thì trí tuệ yếu kém. Người nói: Thế Tôn, với thanh niên Subha. Phản chứng, đã trả lời; không dùng để quy kết nghiệp cho ai. [KINH VĂN, lớp B]
Tương Ưng Bộ — bản dịch HT. Thích Minh Châu
- SN 22.49 Soṇa: quán uẩn vô thường là "Ta tốt đẹp hơn / Ta bằng nhau / Ta hạ liệt hơn" là không thấy như thật; cái vô thường, khổ, biến hoại thì không hợp lý quán là "của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi". Người nói: Thế Tôn, với Soṇa con gia chủ. [KINH VĂN, lớp A và B]
- SN 22.91 Rāhula: thấy mọi uẩn "hoặc liệt hay thắng" là "không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi" thì giải thoát, không chấp thủ. Người nói: Thế Tôn, trả lời Tôn giả Rāhula. [KINH VĂN, lớp B]
- SN 22.102 Vô Thường Tánh: tu tập vô thường tưởng thì "tất cả ngã mạn được tận trừ". Người nói: Thế Tôn. [KINH VĂN, lớp B]
Tăng Chi Bộ — bản dịch HT. Thích Minh Châu
- AN 8.6 Thế Pháp: với phàm phu, "không lợi dưỡng xâm nhập tâm của người ấy và an trú", thuận ứng và nghịch ứng; với Thánh đệ tử thì suy tư lợi dưỡng là vô thường, không thuận ứng, không nghịch ứng. Người nói: Thế Tôn. [KINH VĂN, lớp A]
- AN 4.185 Sự Thật Bà-la-môn: người thấy "mọi dục là vô thường" thì không nghĩ "Ta hơn… Ta bằng… Ta là hạ liệt". Người nói: Thế Tôn, với các du sĩ. [KINH VĂN, lớp B]
Tạng Vi Diệu Pháp — Bộ Phân Tích (Vibhaṅga), bản dịch HT. Tịnh Sự (cảo bản)
- §883–885: mạn "ta hơn" do "ỷ có nghề nghiệp, ỷ có nghề giỏi, ỷ có tài cán, ỷ có học vấn"; mạn "ta thua". §898: tự khinh do nghề giỏi, tài năng, học vấn. §901: mạn chấp vào công việc, nghề nghiệp, tài năng, học vấn. [ABHIDHAMMA, lớp C] — không phải lời thuyết giảng trong Kinh.
Chú giải và Phụ chú giải — chính văn Pāḷi (bản Chaṭṭha Saṅgāyana), câu Việt là tạm dịch
- Sumaṅgalavilāsinī, giải DN 33: mạn "người hơn mà nghĩ mình kém", ví dụ vị xuất gia không có lợi đắc cung kính tự nghĩ "ta là pháp sư gì, đa văn gì". Người nói: Nhà Chú giải, không thuộc Kinh văn. [CHÚ GIẢI, lớp D, tạm dịch]
- Mūlapaṇṇāsa-ṭīkā, phần Mūlapariyāya: tưởng chế ngự sự nắm giữ bằng mạn là vô thường tưởng. Người nói: Nhà Phụ chú giải, không thuộc Kinh văn. [PHỤ CHÚ GIẢI, lớp E, tạm dịch]
Luận thư — Thanh Tịnh Đạo, ngài Buddhaghosa, bản dịch Thích Nữ Trí Hải (qua bản Anh của Ñāṇamoli)
- XX.83, dẫn một luận cổ: "Không có sự từ bỏ kiêu mạn nơi một người thấy như sau: Tôi đã thấy suốt với tuệ quán". Người viết: luận sư Buddhaghosa. [LUẬN THƯ, lớp F]
Tham chiếu, không trích trong thân bài: AN 6.45 (nghèo khổ, mắc nợ là khổ với người tại gia); MN 98 phần mở đầu; DN 25 (khen mình chê người là cấu uế); AN 4.185 phần tiếp; Trưởng Lão Tăng Kệ 1228–1231 (từ bỏ kiêu mạn, chỉ tóm ý); MN 44 (thân kiến, lời Tỷ-kheo-ni Dhammadinnā); Luật Tiểu Phẩm XI; Phân Tích Giới Pācittiya 2 (lời mắng nhiếc theo công việc, nghề nghiệp); Luật Đại Phẩm I (Vô Ngã Tướng); AN 7 Phẩm Không Tuyên Bố; Paṭṭhāna (thiện pháp làm duyên cho ngã mạn); Chú giải Paṭisambhidāmagga (nghĩa vô ngã); Thanh Tịnh Đạo XXII.51, XX.125–126, XXII.67.
[DIỄN GIẢI TRUE DHAMMA]: tà kiến nền "kết quả bên ngoài cho biết tôi là ai"; "lời từ chối dọn vào ở trong tâm"; "tự hào và tự khinh là hai đầu của cùng một cái thước"; bốn kiểu phản ứng; phân biệt hành động và thành tích; bảng "thành tích / giá trị"; cái bẫy "giá trị bất biến bên trong"; năm việc thử trong tuần. Nhân vật Vy là hư cấu tổng hợp.
Dữ kiện ngoài kinh điển: bài không dẫn số liệu hay nghiên cứu tâm lý nào. Lời khuyên về trầm cảm, tài chính, quyền lợi người lao động là lời khuyên phổ thông, không phải tư vấn chuyên môn.